>>>>Miên man nhớ "cánh chim bằng" Nguyễn Chí Thanh
 |
|
Gần 8 năm sau khi ông qua đời, khát khao thống nhất đất nước trong ánh mắt này của ông mới trở thành hiện thực. Ảnh tư liệu |
Niêu cá kho mặn và mối liên hệ máu thịt với nguồn gốc lao động nghèo
Thời niên thiếu để lại ở mỗi người những ấn tượng khó phai mờ. Chúng ta đều biết Bác Hồ hoạt động ở nước ngoài mấy chục năm mà vẫn thích món tương, cà rất bình dân vùng Nghệ Tĩnh. Anh Thanh thích món cá biển kho mặn với nhiều ớt.
Mùa hè năm 1962, tôi cùng anh vào Sầm Sơn vừa nghỉ ngơi vừa chỉnh lý một số văn kiện. Một sáng tôi thấy Chắt, cần vụ của anh ra chợ mua về một cái niêu đất. Thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, Chắt cười. "Ở nhà an dưỡng thiếu gì món ngon thế mà ngày nào anh ấy cũng xuýt xoa nhắc đến món cá kho mặn, mình thương quá, thôi chiều anh ấy một tí vậy”.
Món ăn mơ ước ấy thật đơn giản. Đó là những con cá cơm rang mặn đến khô cứng, cùng với ớt tươi và một vài lát măng vòi. Đây chính là mối liên hệ máu thịt với nguồn gốc lao động nghèo – tôi nghĩ. Ý nghĩ của tôi có dịp được xác minh. Anh tâm sự: “Khi đi làm cách mạng mình có nghĩ tới chuyện cao xa nhưng cũng có khi chỉ ước mong sao bữa cơm về sau có được niêu cá kho mặn”.
Một lần nói chuyện với anh thanh niên xã Thái Bạt, tỉnh Sơn Tây, anh đã làm người nghe rất xúc động. Giữa mảnh sân nhỏ nhà nông dân - hồi này, các hợp tác xã chưa có sân phơi to - dưới ánh đèn leo lét, sau khi thách vật tay và hạ suốt lượt thanh niên trong thôn, anh thấp giọng chuyện trò với lứa trẻ xúm xít chung quanh. Những thanh niên này mười lăm phút trước còn rụt rè im lặng vì lần đầu tiên tiếp xúc với một Đại tướng. Anh nói:
“Cách đây chừng ba mươi năm, lúc cách mạng chưa thành công, tôi còn là một thanh niên mười bảy tuổi, trẻ, khỏe và làm ruộng như các đồng chí. Nhưng hồi ấy tôi phải đi làm thuê cho một nhà giàu.
Tôi nhớ một hôm, tôi và một anh bạn cùng đi đạp nước về, mụ chủ nhà hất hàm hỏi: “Các chú đạp được mấy sào?. Tôi đáp: “Được năm sào”. Mụ chủ nhà không nói một câu. Mặt bỗng nhăn như bị, mụ giận cá chém thớt, cầm thanh củi đánh con chó mà chửi: “Mẹ cha mày, tao cho mày ăn cơm hay ăn cứt?”.
Các đồng chí thử nghĩ xem nó chửi ai, lúc bấy giờ chúng tôi bưng bát cơm của nó ăn thì bữa cơm đó thế nào? - Bữa cơm trộn nước mắt, các đồng chí ạ.
Các đồng chí vừa cho biết mỗi người đều có hai, ba bộ quần áo lành, đều được học hành. Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội chưa được bao lâu mà đời sống chúng ta lên được như vậy là điều đáng mừng. Thanh niên chúng tôi xưa không bao giờ được như thế đâu, rách suốt đời, quần áo vá chằng chịt mỗi người một kiểu, đi đằng xa cứ nhìn cái áo vá đã nhận ra anh Kèo hay anh Cột.
Có người nắng tháng năm chẳng ốm đau gì mà phải nằm đắp chiếu vì chỉ có một cái quần, giặt rồi không có cái mặc. Nông dân nghèo ngày xưa không dễ gì đem mồ hôi đổ lấy bát cơm. Đi thì cắm đầu xuống đất, về không dám cất mặt lên trời. Nếu có ai hỏi cuộc đời họ ra sao thì họ sẽ trả lời.
Khổ chi da diết diết da
Áo em hai vạt trải ra anh nằm
Cuộc đời của thanh niên cũng như của nhiều nông dân ngày trước là như thế đấy, các đồng chí ạ!”.
Cuộc sống giản dị những ngày đầu về Hà Nội
Cuộc sống riêng của anh Thanh thật giản dị. Con đầu lòng của anh sinh ở chiến khu Hoà Mỹ. Hoàn cảnh kháng chiến hồi đó đầy khó khăn, cháu ốm đau luôn. Để khỏi trở ngại công tác và làm phiền các đồng chí chăm sóc cho gia đình mình, anh chị gửi cháu về làng nhờ bà con nuôi giúp nhưng rồi cũng không nuôi được. Có lẽ vì nghĩ tới cháu và rừng núi quê hương khi vào miền Nam chỉ đạo cuộc chiến đấu chống Mỹ, anh đã lấy hai từ Trường Sơn, tên đứa con đầu lòng, làm bút hiệu cho những bài bình luận nảy lửa.
Ở chiến khu Việt Bắc, chị sinh đôi và lần này chỉ nuôi được một cháu. Cả gia đình hàng tháng sống dựa vào số gạo Nhà nước cấp theo tiêu chuẩn cho hai cán bộ. Thấy cháu yếu và anh cũng gầy, cơ quan mua cho một con bò cái để vắt sữa nuôi cháu và cũng để bồi dưỡng sức khoẻ cho anh. Hôm nào đồng chí Chắt cần vụ của anh ra suối câu được một ít cá, mang về kho với ớt và măng vòi, hôm ấy là bữa ăn tươi. Khi cháu đã lớn, anh bảo các đồng chí phục vụ dắt con bò trả lại cơ quan.
Về Hà Nội, sinh hoạt dĩ nhiên khá hơn, anh vẫn giữ cho mức sinh hoạt gia đình không cách biệt với những cán bộ bình thường. Cháu trai mặc quần mua ở cửa hàng mậu dịch, các cháu gái mặc sơ mi nhuộm màu gụ như hồi còn ở nông thôn. Nhà có mảnh vườn, mọi người kể cả các đồng chí phục vụ và các cháu cùng trồng rau; khi nào có thì giờ, anh cũng tham gia.
Suốt bao mùa đông ở Hà Nội, anh vẫn tha chiếc áo va rơi bằng dạ nâu nặng như cùm được cấp hồi ở Việt Bắc, đã rụng hết tuyết, có chỗ gần như trơ bao tải, trong nhà chẳng có thứ gì đáng giá. Hôm nào rét quá, khoác thêm chiếc áo choàng cấp tướng. Vật quý nhất tôi thấy trong phòng khách của anh là một bộ ấm chén bằng sứ nước ngoài khá đẹp, chắc là quà tặng, nắp ấm gẫy núm, được gắn lại bằng xi măng.
Một hôm nghe tin anh cảm sốt, tôi sang thăm. Bị bác sĩ cấm ra khỏi buồng, anh đang mong có khách thân đến chơi nói chuyện cho đỡ buồn. Phòng ngủ hẹp, chiếc giường cổ lỗ choán hết chiều rộng. Tấm màn tuyn cũ vá hai ba miếng. Giường lò xo nhưng không có đệm mà trải chiếu. Anh ngồi giữa giường lò xo lún xuống bốn góc chiếu hếch lên trông thật buồn cười.
Nhà không có hiên, về mùa hè phòng ngủ ấy rất nóng. Một sáng, gặp tôi anh phàn nàn: “Chà chà, nóng ơi là nóng. Đêm qua mình phải dậy ra vườn hai ba bận”.
Câu chuyện xoay quanh thời tiết, khí hậu. Anh nói tiếp:
Các cậu bên tổng cục(1) sang chơi, thấy nhà mình xan nắng, định lắp cho cái máy lạnh. Mình bảo thôi. Mình dù sao cũng còn trẻ, để nhường cho các đồng chí cao tuổi sức yếu hơn. Nước ta nghèo, nếu cứ bày đặt ra, nhà trên dùng được máy điều hoà nhiệt độ thì nhà dưới cũng dùng được, rồi thi nhau bóc ngắn cắn dài, chết cả.
Hồi mới về Hà Nội(2), cơ quan quân đội có nhã ý xếp gia đình anh ở một ngôi nhà ven hồ Trúc Bạch. Đó là một biệt thự đẹp, có mái nhọn cao vút và trang trí thanh nhã, ngửa mặt đón gió Hồ Tây. Anh từ chối, xin về ở ngôi nhà xan nắng gần khu quân đội. Có lần anh nói với tôi:
- Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, khó tránh khỏi chớm nở trong bộ đội tư tưởng đòi hưởng thụ. Muốn được phong quân hàm cao, muốn hưởng tiêu chuẩn khá không phải là những hiện tượng cá biệt. Mình ở nhà sang quá thì khó gần gũi anh em, mà có khi nói điều cần phải nói cũng khó lọt tai người nghe.
"Anh là một người bình thường như tất cả mọi người."
 |
| Đại tướng mà giản dị, gần gũi |
Anh rất ngại lam phiền hà người khác. Đi công tác về cơ sở, nếu không tiện báo trước thì tính độ đường sao cho đừng đến quá muộn, để khỏi làm phiền các đồng chí nhà bếp chạy bữa ăn của khách.
Một lần giữa trưa hè, từ Hà Nội vào thị xã Thanh Hóa thì vừa trưa. Ai nấy đều đói và mệt. Dĩ nhiên có thể vào cơ quan tỉnh uỷ hoặc khách sạn giao tế đầy đủ tiện nghi. Anh gợi ý chúng tôi nên vào cửa hàng ăn uống thị xã: “Chúng mình chỉ đi qua, không phải là khách đến làm việc với tỉnh, chớ nên làm phiền anh em”.
Cả đoàn vào cửa hàng ăn quốc doanh ở phố Vườn Hoa cũ. Anh tìm một chiếc bàn trống kéo ghế ngồi hút thuốc lá chờ chúng tôi chia nhau người xếp hàng mua vé, người đợi đến lượt lĩnh các món ăn. Dạo ấy cơm ở cửa hàng ăn độn ngô vàng rộm. Anh ăn một suất như mọi người, ngồi nghỉ một lát ngay ỏ bàn ăn rồi tiếp tục lên đường.
Lần khác, có việc vào khu Bốn cũ, anh rủ anh em đi đêm cho mát. Chúng tôi ăn chiều sớm và chờ ở nhà anh. Bốn giờ rưỡi chiều, anh họp Bộ Chính trị về, tất cả lên xe đi luôn. Cơm tối của anh đã được nắm sẵn. Đến Ninh Bình, trời tối hẳn, anh Nghĩa lái xe tìm một nơi quang đãng bên đường, dừng xe lại rồi hai thầy trò mở cơm nắm ra ăn (hồi nãy Nghĩa chưa kịp cùng ăn với chúng tôi vì chờ đón thủ trưởng tan họp). Ăn xong, hai anh em lôi chiếc bình toong bộ đội lên dường.
Tôi từng nhiều lần suy nghĩ về ý dẫ nói ở trên; sự giản dị của anh quả là một sự giản dị bẩm sinh. Anh chan hoà với quần chúng bình thường, tự nhiên như cuộc đời không thể nào khác. Anh không cần có sự cố gắng nhỏ nhặt nào để quên cương vị của mình: cương vị một cán bộ giữ trách nhiệm cao và có uy tín lớn. Anh là một người bình thường như tất cả mọi người.
Gần gũi mà nghiêm khắc
Đầu năm 1961, anh sống nhiều ngày ở hợp tác xã Đại Phong, tỉnh Quảng Bình, để nghiên cứu cách quản lý và rút kinh nghiệm nhằm phát động phong trào thi đua rộng lớn trong nông nghiệp. Buổi họp chung toàn hợp tác xã, bà con đến rất đông. Nhiều người nghe tên anh nhưng chưa biết mặt. Có mấy bà đến muộn, đứng phía sau, cứ nhón chân nhìn lên đoàn Chủ tịch và hỏi nhau: “Mô, đại tướng mô?”. “Ông mô là đại tướng?”.
Đang đứng lẫn trong đám đông, lắng nghe xã viên trò chuyện, anh hóm hỉnh trả lời: “Đấy, đấy, cái ông trắng trẻo, béo tốt ngồi thứ hai từ bên tay trái ấy”. Chỉ tội cho anh bạn ấy của tôi mấy hôm sau đi đâu cũng có người muốn theo xem mặt đại tướng, mãi sau đó mọi người mới vỡ lẽ nhân vật nổi tiếng là người có khuôn mặt xạm đen, tay chân chắc nịch như nông dân chứ không phải anh cán bộ trắng trẻo, đầy đặn ngồi ở đoàn Chủ tịch cuộc họp hôm nọ.
Một cách tự nhiên, bằng trực giác, anh thông cảm những khó khăn và thấu hiểu nguyện vọng của quần chúng. Làm việc với anh ít khi chúng tôi thấy anh nổi nóng. Anh luôn luôn tự kiềm chế, không để sự vui buồn của mình tác động trong quan hệ cộng tác. Chỉ có một lần tôi thấy anh không giữ được mình. Kỳ giáp hạt năm ấy, một số địa phương mất mùa, nhân dân thiếu ăn, Nhà nước đưa gạo về giúp, nhưng có nơi cán bộ làm ăn không đến nơi đến chốn. Anh đi kiểm tra, phê bình và xử lý nghiêm khắc những cán bộ, Đảng viên xâm phạm lợi ích của quần chúng. Tại đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh X, trước khi phát biểu ý kíên, anh trao đổi với tôi:
- Đảng bộ ở đây có một số khuyết điểm. Ban Bí thư đã chỉ ra, và anh em cũng đã thấy. Mình phân vân không biết có nên nói nhiều về mặt ấy nữa hay không. Chỉ sợ mình không kiềm chế được và nói quá nặng lời. Phân tích về mặt lí luận, thường mình bình tĩnh, nhưng động đến tình cảm mình không tự chủ nổi…
Tôi chưa kịp trả lời, anh đã gật gù tự giải đáp:
- Có lẽ cũng phải nói thôi. Dịp này không phát biểu khó có lúc nào khác. Một vài người chối tai, có thể không bằng lòng, nhưng rồi anh em sẽ hiểu.
Quả nhiên bài phát biểu của anh có đoạn thật gay gắt. Nhắc đến hiện tượng cán bộ tự tư tự lợi, giọng anh lạc đi:
- Đảng viên gì? Cán bộ gì? Dân đói, Nhà nước gửi về mấy tạ gạo, ba ông chi uỷ chia nhau trước mỗi người mấy chục cân, thật không bằng… con chó. Xin các đồng chí bỏ qua cho, tôi biết những hiện tượng như vậy không nhiều, nhưng nó diễn ra trong hoàn cảnh không thể nào tha thứ được. Không thể nào để lại trong Đảng ta những con người thoái hoá đến mức ấy.
* * *
- Vốn liếng chính trị của mình ấy à? Nói chính quy thì mình chỉ được học vẻn vẹn mười ngày. Hồi ấy, sau mấy năm hoạt động tự phát ở làng quê, đơn độc đấu tranh chống bọn cường hào, mình được Chi bộ bắt liên lạc và kết nạp vào Đảng. Đang làm Bí thư Chi bộ, mình được gọi vào Đà Nẵng, đến nhà anh Lê Văn Hiến.
Anh Hiến hồi ấy làm công chức, nhà anh là một cơ sở của Đảng. Anh Lê Duẩn huấn luyện mình suốt mười ngày về những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhiệm vụ trước mắt của Đảng và phương thức vận động quần chúng hoạt động cách mạng.
Cuốn sách kinh điển đầu tiên mình đọc, mình còn nhớ là Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Sau đấy Xứ uỷ cho mình về địa phương, bổ sung Tỉnh uỷ Thừa Thiên, và ít lâu sau làm Bí thư tỉnh.
Anh thường hào hứng kể lại việc dự lớp huấn luyện đầu tiên chỉ một thầy một trò, coi đó là một trong những giờ phút hứng thú nhất đời hoạt động của mình. Anh nói:
- Anh Ba Duẩn là một trong những lãnh đạo lâu năm nhất ở Trung ương sau Bác Hồ. Mình còn ít tuổi, anh đã vào Trung ương, hoạt động khắp Bắc, Trung, Nam, ở đâu cũng có dấu chân anh. Mình ít thấy người sâu sắc và nhìn vấn đề gì cũng có tầm xa và sáng tỏ như anh Ba.
Đó là một đêm hè ở bãi biển Sầm Sơn, chúng tôi cùng anh chuẩn bị một bài cho tờ báo Đảng, giải đáp một vấn đề nhận thức của cán bộ đối với phong trào hợp tác hoá nông nghiệp đang gặp vài vướng mắc trong bước đi lên. Ban ngày làm việc căng thẳng, tối anh đánh trần, mặc một chiếc quần cụt sang phòng tôi tán chuyện và đón gió biển.
Ngoài anh, có một người đồng hương vùa làm cầm vụ, vừa bảo vệ anh từ những ngày đầu cách mạng và vẫn xem như người nhà; đồng chí lái xe quê Nghệ An; thư ký của anh là một đại tá về sau đã hy sinh trên chiến trường đánh Mỹ; một chuyên viên của văn phòng Trung ương Đảng về những vấn đề nông nghiệp, và tôi, nhà báo.
Mỗi lần về công tác nông thôn, chừng ấy người ngồi trong chiếc xe con. Chúng tôi nhường anh ngồi ghế trước cùng lái xe cho thoải mái, còn bốn người ghế sau. Dĩ nhiên có thể xin cơ quan thêm một chiếc xe nữa, nhưng anh không muốn. Về địa phương, thế nào cũng còn có xe của các đồng chí lãnh đạo tỉnh cùng đi làm việc, thế là sẽ có một đoàn xe con về đỗ ở sân phơi hợp tác xã trước những đôi mắt tò mò – và có thể trách móc nữa của xã viên, nếu hợp tác xã làm ăn kém.
Đã khuya lắm. Điện chỉ thắp sáng thị trấn nghỉ mát cho tới mười giờ, đã tắt từ lâu. Chúng tôi vẫn ngồi nói chuyện. Tôi đốt mẩu nến thường mang theo những chuyến đi công tác nông thôn. Dù đã để vào một góc buồng, ngọn nến vẫn chập chờn lay động theo gió biển càng khuya càng thổi mạnh. Sóng biển rạt rào hoà trong tiếng phi lao.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và công việc viết báo
 |
|
Bác Hồ và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trong một buổi xem văn nghệ quần chúng |
Anh không nói về anh - rất ít khi anh làm việc đó. Câu chuyện mở đầu bằng công việc chúng tôi đang làm, xoay quanh việc viết lách.
- Chà chà – anh nói – không việc gì căng bằng viết báo. Hôm nào mình phải viết báo là y như cả nhà biết: ăn kém đi, ngủ ít hơn. Đẻ ra được một bài tốn biết bao công sức. Thế mà cánh biên tập các báo tưởng mình đẻ ra dễ lắm, tay này đến com măng bài này, tay kia đến bảo xin anh viết cho bài nọ. Rồi nó trả cho mấy đồng nhuận bút, có khi nó quên đi, mà mình thì mất ăn mất ngủ bao đêm.
Vui đà, anh kể về bài báo đầu tiên trong đời anh, đăng trên một báo chép tay do anh cùng mấy thanh niên trong làng làm, lên án bọn cường hào và chốngnhững hủ tục. Có hôm báo bí bài phải chọn và “thuổng” nguyên cả bài đăng trên báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Anh cười: “Hồi đầu, quả mình cũng chưa phân biệt được tờ Tiếng Dân khác tờ Nam Phong ở những chỗ nào”. Mãi về sau, anh mới bị tờ báo của cụ Huỳnh Thúc Kháng thu hút vì những bài chống Tây. Anh lấy chiếc lồng ấp bằng đồng - vật quý duy nhất còn sót lại sau khi gia đình sa sút – mang bán cho hàng đồng nát để có tiền đặt mua báo.
Lần đầu tiên gặp một nhà cách mạng về qua làng, anh lấy làm vinh hạnh vô cùng. Đó là một cậu tú bỏ đường công danh đi “làm cách mạng”. Bộ dạng đàng hoàng, ăn nói lưu loát, học rộng biết nhiều, tác phong lại giản dị, đến nhà gặp gì ăn nấy, không kiểu cách nhu các vị con quan.
Để tỏ lòng ngưỡng mộ khách, anh đập chết một con gà mái tơ làm cơm đãi. Đêm, hai anh em nằm gác chân lên nhau nói chuyện.Chao! Sao lại có một người có thể hiểu biết rộng đến thế? Anh ta nói cho anh Thanh nghe về tổ chức cai trị của Pháp ở Trung kỳ từ Thanh Hoá đến Bình Thuận. Về sau mới biết, ra nhà cách mạng từng làm thầy phán - ở Toà công sứ.
Sự giáo dục của Đảng, và đặc biệt lớp huấn luyện ngắn ngày đã đảo lộn mọi quan niệm của anh về cách mạng, đưa anh vào quỹ đạo mới, và chính vì vậy nó trở thành chi tiết hứng thú nhất trong đời anh.
Kỷ niệm lần đầu gặp Bác Hồ
 |
|
Từ phải sang trái: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Việt Bắc |
Một cuộc gặp gỡ vô cùng hào hứng và có ý nghĩa quyết định cá tính và tài năng của anh là lần đầu tiên gặp Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.
Trước tổng khởi nghĩa tháng Tám, anh đang hoạt động ở Nam Trung bộ thì được anh Tố Hữu lúc ấy phụ trách Bí thư tỉnh uỷ Thanh Hoá, theo chỉ thị của trung ương, vào bắt liên lạc, chuẩn bị cử người đi dự Đại hội sắp họp ở Tân Trào. Cùng anh Trần Quý Hai, anh Thanh thay mặt Xứ uỷ Trung kỳ dự Đại hội. Từ Trung bộ ra đến Hà Đông, gặp đồng chí Lê Đức Thọ… Lên nữa, được làm quen các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, những người mà anh hằng mang lòng kính yêu và mến phục. Anh nói:
“Thấy anh Tô(3) và anh Văn đang ngồi hí húi viết báo mình thú vị quá. Bụng nghĩ: không rõ các nhà đại trí thức viết lách cá vất vả như mình không!”.
Bữa cơm, nghe anh Việt nói:
- Tối nay đi gặp Ông Cụ.
Biết các đồng chí Thường vụ Trung ương đi gặp Bác, mình vội đề nghị:
- Cho tôi đi cùng.
Buổi gặp ấy dĩ nhiên để lại ấn tượng sâu sắc trong đời anh, cũng như trong đời bao nhiêu người may mắn được gần gũi Bác Hồ. Anh cố gắng học tập đạo đức, và tác phong của Bác Hồ. Bác Hồ quý anh, bồi dưỡng và chăm sóc anh, Bác thấy ở người cán bộ trẻ có đôi cánh vươn rộng của con đại bàng.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, anh bị bệnh phổi vì làm viếc quá sức. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch khuyên anh nghỉ và đề nghị với Bộ Chính trị ra quyết định buộc anh chấp hành. Anh gửi báo cáo xin chấp hành, nhưng vì công việc đang bề bộn, đề nghị Trung ương cho phép làm xong một vài việc dở dang, trong đó có việc chỉ đạo trao trả tù binh Pháp, rồi sẽ yên tâm nghỉ.
Thư vừa gửi đi hôm trước thì hôm sau Bác Hồ đột ngột đến. Hồi ở chiến khu, một đôi lần Bác đến với các cháu, có lần ở lại ăn cơm với gia đình, nhưng lần nào cũng có báo trước. Lần này Bác không báo trước mà đi đường tắt, bỏ qua tổ cảnh vệ. Khi các đồng chí gác trông thấy, kêu lên: “Bác! Bác!” và xúm lại thì Bác đã vào trong nhà.Thấy mồ hôi lấm tấm trên vầng trán rộng, anh Thanh vội cầm quạt, quạt cho Bác. Chủ tịch hỏi thăm sức khoẻ anh, và không chờ anh kịp thưa, Bác Bảo luôn:
- Bộ Chính trị đã quyết định rồi, chú sắp xếp đi nghỉ thôi.
Bị động hoàn toàn, anh chỉ còn biết chấp hành chỉ thị, và ngày hôm sau bàn giao công tác đi điều dưỡng mấy tháng.
Đại tướng và phong trào "gió Đại Phong"
Cuối năm 1960 công cuộc cải tạo nông nghiệp cơ bản hoàn thành ở miền Bắc. Anh được phân công làm Trưởng ban nông nghiệp Trung ương, chăm lo hoàn thiện quan hệ sản xuất mới và phát triển sản xuất. Trong buổi đầu, kinh nghiệm làm ăn tập thể chưa có, phong trào không tránh khỏi một số khó khăn. Nhiều nông dân ồ ạt xin vào hợp tác xã: có những người nào rồi, chưa kịp thấy cái lợi, đã tính chuyện xin ra. Phong trào không ổn định. Lại thêm vụ chiêm năm 1960 mất mùa vì rét, để lại nhiều hậu quả. Hồ Chủ tịch mời anh đến bảo:
- Phong trào mới nhóm, trầm trầm. Chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên để đánh tan bầu không khí kếm phấn khởi.
Chủ trương phát động phong trào thi đua Đại Phong bắt nguồn từ chỉ thị đó. Chấp hành ý kiến của Bác, anh bôn ba ngược xuôi, nghe đâu có hợp tác xã làm ăn tốt, có sáng kiến hay là anh tìm đến nghiên cứu. Hôm nay ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, tuần sau đã lên Sơn La, Yên Bái, rồi đáp xe lửa đến Lào Cai, cưỡi ngựa lên tận bản Mèo. Chuyến đi này anh phát hiện và bồi dưỡng một cán bộ người Mông về sau được tuyên dương anh hùng, đó là Lý Lao Chải.
Mùa xuân năm 1961, phong trào thi đua học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong mở rộng. Như một làn gió mới, nó xua dần bầu không khí trầm trầm cùng nếp suy nghĩ thụ động của không ít cán bộ, khởi lên những nhân tố mới. Nghe tin ở Triều Tiên có phong trào Thanh Sơn Lý, cũng là một phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, kết hợp với công tác do Trung ương Đảng giao sang thăm nước bạn, anh để nhiều thì giờ nghiên cứu tại chỗ phong trào Thanh Sơn Lý.
Một buổi tối tháng Mười năm 1961, tôi cùng hai người bạn đến thăm anh nhân chuyến anh vừa đi thăm Triều Tiên về. Anh kể cho nghe kinh nghiệm Thanh Sơn Lý, sổ tay của tôi còn ghi lại khá tỉ mỉ những điều anh suy nghĩ.
Anh về Thanh Sơn Lý, chỉ nghe bạn báo cáo trong hai giờ. Nhưng ở lại hợp tác xã hai ngày, tìm hiểu các mặt. Nhiều câu hỏi anh đặt ra, bạn chưa trả lời được, xin khất để suy nghĩ. Thanh Sơn Lý là một hợp tác xã bậc cao gồm ba trăm hộ (nhiều ruộng đất nhưng ít người hơn hợp tác xã Đại Phong).
Cải tiến kỹ thuật trồng trọt khá, năng suất lúa đật 40 tạ một héc – ta. Chăn nuôi tập thể kém: cả hợp tác xã chỉ có mấy chục con lợn nái. Chăn nuôi gia đình, mỗi hộ chưa có được mười lăm gà vịt. Bạn rất chú ý củng cố các đội sản xuất (bên ấy gọi là đại đội). Hợp tác xã được Nhà nước giúp đỡ nhiều, cả về vốn, vật tư kĩ thuật và cán bộ…
Anh nhắc đi nhắc lại:
- Phong trào của ta không kém đâu. Có nhiều vấn đề mình thấy xa hơn. Tôi đã xoay cán bộ Đại Phong đúng một ngày rưỡi mà anh em trả lời được đâu ra đấy… Duy việc giúp đỡ của Nhà nước cho hợp tác xã, chúng ta không bằng bạn, chưa làm được bao nhiêu. Ở Triều Tiên, Nhà nước đầu tư cho Thanh Sơn Lý rất nhiều. Tuy vậy theo dõi báo chí, tôi thấy phong trào thi đua mở rộng không nhanh bằng ở ta.
Anh nói:
- Tôi đâu dám gọi cuộc vận động ở ta là phong trào thi đua Đại Phong ngay từ đầu. Tôi chỉ dám Nêu khẩu hiệu: “Học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong”. Và đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn khi tổng kết Hội nghị lần thứ 5 của Trung ương Đảng đã gọi Đại Phong là hợp tác xã gương mẫu vì nó giải quyết đúng hướng nhiều vấn đề cơ bản trong bước đi ban đầu.
(Trích từ "Cánh Chim Bằng" trong tập "Những người tôi quý mến" - Tác giả: Phan Quang - NXB Hội Nhà Văn 2002)
Còn tiếp...
-----------
Ghi chú: (1) Tổng cục chính trị mà anh chủ nhiệm
(2) Năm 1954
(3) Anh Tô: Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Anh Văn: Đại tướng Võ Nguyên Giáp