>> Tiến hóa và cách mạng để không lỡ nhịp WTO
Một năm vỡ òa những ước mơ không thể kiềm chế
 |
|
Khi thuyền nhỏ ra biển lớn (Ảnh minh họa nguồn: picasaweb.google.com) |
Kể từ ngày chúng ta chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đến nay thấm thoắt đã hơn một năm trời.
Bây giờ nhìn lại, hẳn nhiều người vẫn chưa quên cái không khí rộn ràng háo hức hồi ấy với những ngôn từ “có cánh” trên các phương tiện truyền thông, với nhiều lời phát biểu nặng về cảm tính và đầy chất …. lãng mạn của những người có trách nhiệm cũng như trong giới làm ăn.
Nào là làn gió mới sẽ góp thêm sức mạnh cho chúng ta, nào là con hổ mới sắp xuất hiện, và hình tượng hơn cả là con tàu Việt Nam đang thẳng tiến ra biển lớn!
Cũng dễ hiểu thôi, sau bao nhiêu năm chờ đợi đã đến lúc vỡ oà những ước mơ không thể kiềm chế của một đất nước hơn 84 triệu người, trải qua hai mươi năm đổi mới mà những điều muốn có vẫn chưa được bao nhiêu.
Sự tự tin còn được nhân lên bởi những lời ca ngợi từ bên ngoài, bày ra trước mắt người trong nước về một triển vọng nhanh chóng đổi đời của một dân tộc thông minh, cần cù đang bước một chân vào nền kinh tế thị trường.
Vào lúc ấy, chỉ có những chuyên gia từng trải và các vị lãnh đạo tỉnh táo không bị cuốn vào sự hào hứng nhất thời, đã nhìn ra thực chất tình hình hội nhập của chúng ta như một con thuyền nhỏ vừa rời cửa sông, dấn thân vào chuyến hải hành đầy sóng gió mà chưa kịp trang bị cho mình đầy đủ các thiết bị cần thiết.
Tham gia vào cuộc tranh đua ấy quả thật không đơn giản chút nào, bởi sau khi được chấp thuận góp mặt cùng với bao nhiêu trang anh tài khác ở đại dương bao la, thì vấn đề đặt ra là tranh đua với vận tốc nào và được bao lâu, hoàn toàn tuỳ thuộc vào nội lực tức sức khỏe của nền kinh tế chúng ta.
Nhiều tiên liệu đã được đưa ra ngay khi chúng ta gia nhập WTO. Trước hết là vật giá sẽ liên tục leo thang; thứ hai là ngân sách sẽ bội chi cao làm giảm khả năng đầu tư của khu vực công vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở; thứ ba là đồng tiền Việt Nam được định giá quá cao không phải là điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập; và thứ tư là áp lực nhập siêu sẽ làm mờ nhạt những kết quả mà xuất khẩu mang lại.
Diễn biến tình hình suốt năm qua rõ ràng đã không ngoài dự đoán, và tuy đã lường trước những khó khăn chúng ta vẫn không đủ sức lèo lái mọi chuyện theo ý mình.
Đối mặt với thực tế
 |
|
Kéo lưới (Ảnh Nguyễn Sơn) |
Giờ đây chúng ta đã biết được nhiều hơn về sân chơi toàn cầu và chấp nhận cái đương nhiên phải có như quy luật cuộc sống: đã có bất công trên phạm vi một nước ắt phải có bất công trên bình diện quốc tế.
Toàn cầu hoá dưới mái nhà WTO tạo thịnh vượng chung cho toàn thế giới, nhưng làm gì có chuyện sự thịnh vượng ấy sẽ được chia đều cho mọi quốc gia. Chính vì vậy mà nội lực hay sức mạnh tự thân của nền kinh tế mới có thể giúp một đất nước rút ngắn được khoảng cách với các nước khác.
Nay thì một số người có trách nhiệm đã thẳng thắn thừa nhận một sự thiếu chuẩn bị và năng lực chưa đủ tầm để đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế hội nhập. Đây chẳng phải chuyện mới, nhưng điều đáng nói là chúng ta đã bắt đầu làm quen với tư duy nhìn thẳng vào sự thật.
Chẳng hạn gần 18 tỷ USD đầu tư nước ngoài trong năm 2007 là con số lớn nhưng chưa nói lên được thực chất khi gần 90% số vốn đăng ký này thuộc về các dự án mới, mà đa số lại nhắm vào hai lĩnh vực công nghiệp nặng và địa ốc vốn ẩn chứa rất nhiều yếu tố đầu cơ và là “đất lành” cho tham nhũng phát triển.
Cũng dễ nhận ra rằng sức khỏe của nền kinh tế chúng ta chưa đủ sức để hấp thu nguồn vốn phát triển nhanh chóng đến như vậy.
Điển hình là trước đợt sóng đầu tư nước ngoài của năm 2007 ồ ạt đổ vào, tỷ lệ thực hiện vốn FDI chỉ vỏn vẹn 24% (thua con số 40% của năm 2006 và thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 90% của những năm đầu thập niên 2000) mà nguyên nhân chủ yếu là sự dè dặt và chậm trễ trong việc cấp phép các dự án, điều này đã làm nản lòng các nhà đầu tư.
Hay như năm qua chúng ta giữ được mức tăng trưởng kinh tế 8,5%, nhưng lạm phát lên đến hai con số cộng với một thị trường bất động sản giá ảo, phải chăng là dự báo của một tình hình bất ổn? Hoặc như nguồn thu từ xuất khẩu được hơn 40 tỷ USD mà nhập siêu đến 11 tỷ USD chính là biểu hiện của một nền kinh tế quá phụ thuộc bên ngoài.
Rồi còn đó nỗi lo về nguồn nhân lực khi ngày càng thấy rõ ngành giáo dục và đào tạo không cung cấp thoả đáng một lực lượng lao động phù hợp với tình hình hội nhập, không chỉ trong quá khứ mà cả trong vài ba năm tới.
Đã có không ít ý kiến của các chuyên gia qua nhiều cuộc hội thảo cho rằng quá trình một năm đến với WTO chưa mang lại cho chúng ta những gì từng mong đợi, thậm chí chỉ là thời gian dò dẫm về một lộ trình mà chúng ta đã thoả thuận.
Như Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, một chuyên gia phân tích có uy tín, nhận định: “Bài học sâu sắc nhất là chúng ta đã không chuẩn bị tốt nên khi bước vào hội nhập đã bộc lộ rõ những khuyết điểm và yếu kém”.
Hành trang nào cho chuyến hải hành dài ngày?
 |
| Hành trang nào cho xuân mới? (Ảnh: Nguyễn Sơn) |
Đã qua rồi cái thời vừa chạy vừa sắp hàng và sự chậm trễ trong cuộc đua tranh chỉ làm cho khó khăn ngày càng chồng chất. Trong khi nỗ lực tìm kiếm thị trường bên ngoài chưa đạt hiệu quả cao, thì chính Việt Nam lại đang trở thành một thị trường tiềm năng cho các nước. Và trong cái thế bị động ấy cũng đã xuất hiện một số triệu phú đô la.
Ngoại trừ số ít người giàu lên nhờ làm ăn năng động và nắm bắt được thời cơ, còn lại là một số đông bỗng nhiên phất lên do biết cách trục lợi trong thời buổi tranh sáng tranh tối của chính sách đất đai không rõ ràng và quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước còn nhiều kẻ hở.
Nhưng những triệu phú như vậy cũng chẳng được bao nhiêu trong mặt bằng đời sống đất nước, khi mức thu nhập bình quân đầu người chỉ mới khoảng 800 USD/năm. Rõ ràng đại đa số người dân vẫn còn đứng bên lề hội nhập và khoảng cách giàu nghèo cứ ngày càng rộng ra.
Thực tế này không làm chúng ta ngạc nhiên vì suy cho cùng tuy có đến mười năm vận động thuyết phục để kịp chuyến ra khơi, nhưng con thuyền Việt Nam chỉ mới một năm dò dẫm ở cửa sông để làm quen với sóng gió trên đường tiến ra biển rộng.
Để có thêm hành trang thích ứng cho một chuyến hải hành dài ngày, trước hết cần phải hoàn thiện các khung pháp lý thực sự phù hợp với tình hình mới, đồng thời nhanh chóng trút bớt gánh nặng trên vai nền kinh tế, đó là các doanh nghiệp nhà nước mà lâu nay tiến hành cổ phần hoá rất chậm chạp.
Sang năm 2008, thực hiện lộ trình cam kết với WTO chúng ta phải tiếp tục cắt giảm hàng trăm dòng thuế, cùng với các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ đi vào hoạt động, việc chuẩn bị mở cửa thị trường bán lẻ … , có nghĩa là cạnh tranh sẽ càng gay gắt hơn và sẽ phải đối phó với nhiều diễn biến phức tạp hơn.
Điều này đòi hỏi sự năng động của các doanh nghiệp và khả năng ứng phó linh hoạt của chính sách vĩ mô. Và khi ấy doanh nghiệp tư nhân cần được tăng thêm cả số lượng lẫn chất lượng qua các chủ trương tháo gỡ vòng kim cô đang làm hạn chế tính năng động, để lực lượng này góp thêm sức mạnh cho con thuyền đất nước vững vàng ra khơi.