|
>> Bệnh tả: Không để Việt Nam thành Bangladesh thứ hai! >> Bệnh tả: Không thổi phồng nhưng đừng giấu dân! >> Tả hay không tả?
Dự báo bi quan này của UB các vấn đề xã hội của QH về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ở Việt Nam trong 5 - 10 năm tới đặc biệt có giá trị ngay ở thời điểm này, khi bệnh tả có nguy cơ lan rộng.
 |
|
Người nghèo, người dân miền núi ít được thụ hưởng hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước. Ảnh minh họa: Kinhtenongthon.com.vn |
Khi lãnh đạo sở nói "không cần y tế xã"
Các thành viên của đoàn giám sát đặc biệt bức xúc về nhận thức của cán bộ ở các địa phương, thậm chí cả lãnh đạo, về vai trò của y tế dự phòng và y tế cộng đồng, những ba-ri-e hữu hiệu chặn đứng mọi dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe cho người dân, nhất là dân nghèo.
"Có lãnh đạo Sở Nội vụ một tỉnh nói với đoàn: Y tế xã có điều trị được gì đâu mà cần đến nó", ĐBQH Nguyễn Thị Khá, ủy viên Ủy ban Các vấn đề xã hội cho hay.
Bà Khá cho rằng, chính từ nhận thức lệch lạc này mà đầu tư cho công tác phòng bệnh của Việt Nam "còn rất hạn chế".
Sự hạn chế này trước hết phải nói đến nguồn nhân lực: "Nhiều giám đốc trung tâm y tế dự phòng cũng không có bằng cấp về y tế dự phòng. Có nơi được đầu tư máy móc, thiết bị y tế nhưng mỗi năm chỉ dùng đến 1 - 2 lần, bởi không có người sử dụng".
Không phải ngẫu nhiên mà các tổ chức quốc tế xếp Việt Nam vào vị trí gần áp chót: 189/191 quốc gia về công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Gần 70% tổng số chi phí y tế: viện phí, thuốc men... là từ tiền túi của người dân. Các loại thuốc mới với giá cả ngày một tăng chỉ được bảo hiểm y tế hỗ trợ một phần. Bình quân ngân sách chi khoảng 10 USD/người/năm. Nguồn kinh phí hạn hẹp này lại chỉ tập trung chủ yếu cho các bệnh viện tuyến trên trong khi người nghèo, người dân khu vực miền núi... ít được thụ hưởng.
Cho đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể phải tăng cường đầu tư cho chăm sóc sức khỏe nhân dân như thế nào, tỉ lệ đầu tư chuẩn cần đạt là bao nhiêu. Ủy ban Các vấn đề xã hội nhận thấy tỉ lệ ngân sách cho y tế hiện hoàn toàn phụ thuộc quyết định của tỉnh. Bản thân Bộ Y tế cũng khó biết được số liệu chính xác về tổng đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên cả nước.
Hiện có nhiều tỉnh chỉ đảm bảo được 3 - 5 triệu đồng để một trạm y tế xã hoạt động trong vòng một năm, dù mức quy định của Bộ Tài chính là ít nhất 10 triệu đồng.
Thậm chí có địa phương còn cắt giảm kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống dịch bệnh nguy hiểm để chuyển cho hoạt động khác, cho đến khi bộ chủ quản có ý kiến mới chấm dứt tình trạng này.
Cấp 1 tỷ đồng phòng dịch, đỡ tốn 4 tỷ để chống
Có lẽ xuất phát từ thực trạng nêu trên nên cũng dễ hiểu khi một dịch nguy hiểm như tả lại tái phát ở phạm vi rộng hơn và mức độ nguy cấp hơn, chỉ ít tháng sau khi những lãnh đạo ngành y tế tuyên bố đã khống chế được nó.
Một thành viên của đoàn giám sát nhận xét: "Thói quen của Việt Nam là có dịch thì mới tập trung chống, vừa hết dịch là quên lãng luôn, trong khi kinh phí chống dịch cao hơn nhiều lần so với phòng".
|

|
|
"Việt Nam có thói quen có dịch mới tập trung chống, vừa hết dịch là lãng quên luôn". Ảnh minh họa: VNN | Ở nhiều tỉnh, tỉ lệ ngân sách cho y tế dự phòng chỉ đạt 15 - 20%, trong khi Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị tỉ lệ này ít nhất phải là 30%. Có tỉnh phía Bắc, khi xảy ra dịch tả phải chi 4 tỷ đồng để chống dịch, trong đó nửa tỷ dành cho y tế dự phòng. Các cán bộ y tế dự phòng ở đây phản ánh với đoàn giám sát rằng, nếu đầu năm tỉnh cấp 1 tỷ để chủ động phòng dịch thì đã không mất đến 4 tỷ để chống dịch.
Hẳn trong số chúng ta còn nhiều người chưa quên những thành quả chăm sóc sức khỏe nhân dân mà đất nước đã đạt được ngay trong chiến tranh. Từ những năm 1960, dưới thời cố Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch, cộng đồng, đoàn thể và xã hội đã tham gia vô cùng tích cực vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, mà cụ thể và đơn giản là khuyến khích nếp sống vệ sinh, diệt ruồi, diệt muỗi, xây nhà tắm, hố tiêu, giếng nước, với sự hỗ trợ một phần của Nhà nước.
Nhờ thế, Việt Nam đã đạt được nhiều chỉ số sức khỏe tiến bộ hơn so với mức thu nhập và được quốc tế ca ngợi, chứ không phải do kỹ thuật chữa bệnh tiên tiến. Còn hiện nay, liệu đã cần phải báo động về nhận thức của người dân và cộng đồng về phòng bệnh, giữ gìn sức khỏe?
Tháng 3 vừa qua, một điều tra của Bộ Y tế và UNICEF về vệ sinh và nguồn nước cho thấy, chỉ có 30 - 40% hộ gia đình Việt Nam có nhà xí hợp vệ sinh. Riêng huyện Thường tín, Hà Tây có hơn 1.000 người bị bệnh đái đường. Nghiên cứu năm 2007 của Viện Chiến lược, Bộ Y tế chỉ ra rằng, đối tượng lạm dụng rượu bia nhiều nhất là cán bộ, công chức.
Chúng ta vẫn chưa có luật nào liên quan đến việc điều chỉnh hành vi con người để hạn chế tình trạng này, trong khi kinh nghiệm nhiều nước cho thấy mỗi quốc gia phải có luật về khuyến khích nâng cao sức khỏe (Health promotion), trong đó có thể ban hành thành nhiều luật riêng như luật phòng, chống tác hại thuốc lá, phòng chống lạm dụng rượu bia, về dinh dưỡng, về sức khỏe tâm thần...
"Hoạt động y tế dự phòng ngày càng sa sút do thiếu trầm trọng về kinh phí cũng như cán bộ sẽ khiến khả năng đảm bảo an toàn sức khỏe cho xã hội bị lung lay. Khi dịch bệnh bùng phát, đất nước sẽ không đủ giường bệnh và kinh phí để chữa trị".
Làm gì để dự báo bi quan này của Ủy ban Các vấn đề xã hội trong 5 - 10 năm tới không trở thành hiện thực? Có lẽ, tất cả phải được bắt đầu từ y tế dự phòng và y tế cộng đồng.
|