>> Lãnh hậu quả từ nền giáo dục sính bằng cấp
Vấn đề gian lận trong thi cử hiện nay đã trở nên quá trầm trọng. Theo tôi, tội gian lận thi cử này có thể coi như một hành vi ăn cắp cấp quốc gia, và luật pháp cần phải trừng trị thật nghiêm minh. Vì kẻ sĩ đi vào đường quan lộ bằng con đường gian lận trong thi cử, thì sẽ kéo theo bao nhiêu là điều bất lương làm xã hội suy đồi.
Nguồn nhân lực hiện có không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, kém kỹ năng thực hành.
Hai vấn đề này không chỉ là vấn đề của giáo dục mà là vấn đề của tòan xã hội, nhưng trong đó trách hiệm và vai trò của giáo dục rất lớn. Muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tất yếu phải bắt đầu bằng việc hiện đại hóa giáo dục.
Theo gương của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi xin đi vào những việc cần làm ngay dưới đây.
Bãi bỏ các kỳ thi, THCS và THPT
Với xu thế hiện thời, một người lao động đi xin việc làm mà trưng ra một trong hai cái bằng hay chứng chỉ tốt nghiệp này, thì chẳng có cơ quan hay công ty-hãng-xưởng nào chịu tuyển dụng họ cả, vì học lực như vậy là quá thấp.
Nhu cầu tuyển dụng của các công ty hiện nay, tối thiểu người lao động phải có học lực lớp 12/12, rồi còn phải qua cuộc thi sát hạch văn hoá và chuyên môn riêng của công ty đó tổ chức nữa. Nhưng sau khi bãi bỏ ba kỳ thi này, thì thay vào đó phải thực hiện nghiêm chỉnh kiểm tra và thi nghiêm túc tòan thể các môn học từ lớp 1 đến lớp 12 vào cuối mỗi học kỳ. Đến cuối cấp, xét các kết quả học tập để đánh giá tổng hợp và cho tốt nghiệp.
Riêng kỳ thi THPT, chỉ tổ chức thi cho các đối tượng tự học hay vì các lý do khách quan không có điều kiện theo học bình thường ở nhà trường.
Xóa dạy thêm
Việc bãi bỏ 3 kỳ thi tiểu học, THCS và THPT, rồi thay thế bằng các bài kiểm tra, thi học kỳ và xét đánh giá tổng hợp và cho tốt nghiệp một cách nghiêm túc (tránh mọi hình thức gian lận, quay cóp) cũng là một trong những phương án giảm thiểu việc học tủ và đi học thêm.
Thì giờ không đi học thêm của học sinh sẽ dùng để cho các em học nhóm bàn bạc thảo luận với nhau trong nhóm hoặc đến thư viện nghiên cứu thêm. Tiền bạc dùng để trả học phí đi học thêm sẽ sử dụng để các em mua sách vở nghiên cứu thêm hoặc tự trau dồi thêm qua truy cập Internet (thuê máy ngoài tiệm hoặc trả cước điện thọai truy cập máy nhà). Ngoài ra, học sinh có thêm thì giờ nghỉ ngơi để tham gia các họat động vui chơi, thể thao rèn luyện thân thể hay tham gia các hoạt động xã hội hay công ích cho cộng đồng.
Còn về phần giáo viên, chúng tôi kêu gọi lương tâm của đội ngũ giáo viên: dạy hết chương trình mỗi môn học cho học sinh ngay trong năm học để học sinh không bị thiếu sót chương trình mới phải đi học thêm cho đủ chương trình. Giáo viên cải tiến cách giảng dạy đảm bảo học sinh tiếp thu tốt; giáo viên hướng dẫn học sinh những phương pháp tự học hay về nhà nghiên cứu thêm. Ban giám hiệu kiểm tra gắt gao giáo án lên lớp hàng ngày của giáo viên để đảm bảo việc không cắt xén hay dạy thiếu chương trình; phòng giáo dục và ban giám hiệu các trường học trong một hay hai tháng nghỉ hè tồ chức bồi dưỡng cho giáo viên về các giáo học pháp mới hoặc các kiến thức mới trên thế giới liên hệ đến môn học mà mình phụ trách.
Nhưng "có thực mới vực được đạo" - đây là trách nhiệm của chính quyền. Phải có giải pháp tiền lương cho thỏa đáng để đảm bảo cho giáo viên (kể cả giáo sư đại học) tương đối đủ ăn để có thể tập trung làm tốt công việc chính là giảng dạy. Ví dụ như theo gương ngành công an giao thông mới đây áp dụng tại Tp HCM, trợ cấp thêm bao nhiêu đó hàng tháng cho mỗi giáo viên, sau đó ai vi phạm cố đi dạy thêm thì sẽ bị kỷ luật ra khỏi ngành chẳng hạn.
Sách giáo khoa "truyền đời"
Về nội dung và hình thức, sách giáo khoa tuy đã được liên tục cải tiến từ nhiều năm nay, nhưng chưa đạt mức hoàn chỉnh. Mong tiếp tục đươc cải tiến, nên đổi mới quan niệm về biên soạn sách giáo khoa ít nhất theo trào lưu khu vực, trào lưu thế giới.
Sau đó, nội dung phải ổn định và chất lượng sách phải bền tốt để có thể sử dụng trong nhiều năm, từ đời anh tới đời các em trong một gia đình. Sách giáo khoa phải được phân phối, bán cho các em học sinh qua một kênh chính thức từ trước ngày tựu trường ít nhất hai tuần lễ, từ Bộ giáo dục tới các Sở, từ các Sở đến các Phòng, và từ các Phòng đến tận các trường học.
Để giúp đỡ các học sinh diện chính sách hay gia đình khó khăn, đề nghị thư viện các nhà trường tăng cường số đầu sách giáo khoa cho các em mượn học. Đề nghị thu mua sách giáo khoa cũ, rồi bán rẻ hay biếu không cho học sinh nghèo vùng sâu vùng xa.
Công bằng trong đầu vào đại học
Điểm chuẩn đầu vào đại học phải công bằng như nhau, không có sự phân biệt. Sinh viên diện chính sách hay khó khăn sẽ được những đãi ngộ bằng học bổng hay trợ cấp, trong suốt quá trình theo học đại học, nhiều ít tùy theo kết quả học tập, chứ không bình quân chủ nghĩa.
Việc tuyển chọn vào đại học hoặc nào thì giao cho đại học hay nấy tự làm. Nên chủ yếu căn cứ vào hồ sơ và kết quả những năm học sinh đã học THPT, rồi kiểm tra hoặc phỏng vấn hay tổ chức thi nếu cần thiết. Như thế mới tuyển được các nhân tài đích thực vào đại học.
Muốn làm đươc như vậy, chúng ta phải có những bước chuẩn bị cho học sinh từ nhiều năm trước khi đến tuổi thi vào đại học, ngay từ khi phân ban. Chúng ta hãy thử lấy hệ thống giáo dục của vương quốc Anh làm thí dụ như sau:
Học sinh theo học Tiểu học Anh từ lúc 5 tuổi đến 11 tuổi. Đến 11 tuổi, học sinh qua 1 kỳ thi sát hạch lớp 11+ theo thứ hạng khi học tại trường tiểu học (chứ không phải là kỳ thi tốt nghiệp) để vào học trường trung học. Nếu đậu thì học sinh vào trường có tên là: trường văn phạm (grammar school). Nếu không đậu, thì học sinh vào trường kỹ thuật (technical school).
Từ 25 năm nay, phần lớn các trường văn phạm và trường kỹ thuật được cải tổ lại và gộp lại thành trường phổ thông hỗn hợp (comprehensive school) và không còn kỳ thi lớp 11+ nữa. Sau 5 năm học trung học (từ năm 11 tuổi đến năm 16 tuổi), học sinh sẽ qua kỳ sát hạch lấy chứng chỉ GCSE (general certificate of secondary education – tương đương bằng tú tài). Năm 17 đến 18 tuổi, học sinh qua kỳ sát hạch lấy chứng chỉ GCSE “A” (advanced) hoặc GCSE “As” (advanced supplementary). Cấp GCSE “A”, học sinh chỉ thi 3 môn: Anh văn / Pháp văn / Đức văn; Tóan / Lý / Hóa; Địa / Sử / Kinh tế.
Nếu đậu chứng chỉ GCSE “A” với điểm cao, học sinh được nộp đơn vào đại học.
Trước khi được chấp nhận cho nhập học, học sinh phải qua một cuộc phỏng vần của trường đại học đó. Nhưng phần lớn học sinh sau khi đậu GCSE “A” rồi, đều được các thầy cô giúp đỡ trước khi đi đến quyết định để: học ngành nghề gì, học tại trường đại học nào và điền các mẫu đơn ra sao.
Qua kỳ thi GCSE, những ứng viên có kết quả tồi, không đậu vào đại học, có thể một là xin đi làm tại một công ty nào đó với tư cách học việc ( apprenticeship) và công ty này sẽ đào tạo thêm ngay tại công ty để trở thành kỹ sư; hai là vào các các trường cao đẳng giáo dục bổ túc (college of further education) để theo học các khóa học ngắn hạn như đánh máy, tốc ký, kinh doanh, bách nghệ; hoặc vào các lớp học nghề (vocational courses) để học các ngành như y tá hay điều dưỡng vân vân . . .
Ứng dụng vào tình hình nước ta, nên tập trung tư vấn học sinh vào các khâu cần thiết đáp ứng phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa và công nghiệp hóa.
Chuyển toàn bộ việc học theo hệ thống tín chỉ
Đây là cách đánh giá, kiểm tra từng chặng trong suốt khóa học, thay vì dồn hết vào một kỳ thi tốt nghiệp nặng nề, dễ xảy ra gian lận thi cử. Ví dụ như muốn lấy được cái bằng cử nhân, sinh viên phải lấy được khỏang 22 tín chỉ trong khỏang thời gian trung bình là 4 năm. Nhưng nếu theo hệ thống tín chỉ, thì một sinh viên giỏi có thể sau 3 năm lấy được đủ số 22 tín chỉ, rút ngắn thời gian học được một năm, đỡ bao nhiêu thời gian và tiền của. Ngược lại, học sinh kém hơn hay gia đình khó khăn, có thể hoàn thành 22 tín chỉ trong thời gian lâu hơn và tốt nghiệp cử nhân sau 5 hay 6 năm.
Các đại học cộng đồng đào tạo ngắn hạn hai năm hoặc các trường cao đằng sẽ thu nhận những thí sinh không đủ tiêu chuẩn vào đại học.
Về chương trình học, các đại học nên bằng cách nào đó yêu cầu sinh viên phải giỏi ít nhất là một ngọai ngữ thông dụng như Anh, Pháp, Nga, Hoa, Nhật... để có thể tham khảo thêm sách báo hay truy cập internet trong khi đang học đại học; để có thể hòa nhập với sinh viên các nước khác khi có dịp xuất ngọai du học; hoặc khi ra trường có thể lăn xả vào làm việc ngay ở các công ty có vốn đầu tư nước ngòai .
Đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ theo phẩm, không theo lượng
Trước hết, cần nêu rõ ba khái niệm khác nhau: nghề nghiệp, văn bằng và chức vụ. Hãy lấy một thí dụ về ngành y: Bác sĩ là một danh từ chỉ nghề nghiệp. Người bác sĩ có thể có học vị tiến sĩ (doctor’s degree) , nhưng cũng có thể không có. Ở Nhật, sau khi học sáu năm ở đại học, thì người sinh viên được cấp bằng cử nhân y khoa (Igakushi).
Sau đó, người sinh viên này sẽ đậu kỳ thi “Y sĩ quốc gia” để có thể hành nghề bác sĩ. Rồi muốn có được học vị tiến sĩ y khoa (Igaku Hakasei), phải học thêm tối thiểu bốn năm sau đại học kèm theo một công trình nghiên cứu chuyên môn đột phá về khoa học. Tiến sĩ y khoa là một học vị chứ không phải la một nghề nghiệp.
Còn giáo sư lại là một khái niệm hoàn toàn khác. Đây là một cấp bậc trong ngạch giảng dạy ở đại học. Ở Mỹ chẳng hạn, cấp thấp nhất là giảng sư (lecturer), rồi phụ tá giáo sư (assistant professor), rồi phó giáo sư (associate professor) xong cuối cùng mới là giáo sư (professor). Tiến sĩ và giáo sư là hai khái niệm khác nhau. Giáo sư có nghĩa là ông thày giáo ở đại học, mà nhiệm vụ chính là giảng dạy và nghiên cứu.
Do đó, để mở đường hiện đại hóa đại học, tôi tán thành ý kiến của giáo sư Hoàng Tụy là phải sớm chấn chỉnh công tác chức danh giáo sư, phó Giáo sư. Chỉ xét duyệt định kỳ hay hàng năm để cấp có thẩm quyền như là “Hội đồng chức danh giáo sư“ công nhận những người thày giáo đang dạy đại học có đủ tư cách ứng cử vào các chức danh giáo sư, phó giáo sư ở các đại học và viện nghiên cứu.
Ngoài ra, cũng nên có một cái khỏang thời gian có giá trị nhất định cho cái danh hiệu giáo sư hay phó giáo sư. Những vị đã già yếu về hưu, không còn làm công tác giảng dạy đại học hay nghiên cứu nữa, thì cũng nên trả lại cái danh hiệu giáo sư hay phó giáo sư đã được phong tặng. Vì có một số vị trong diện này đến giờ này cũng chưa bao giờ truy cập Internet!
Riêng với giáo viên mẫu giáo, tiểu học cần được đào tạo kỹ về nghiệp vụ sư phạm. Còn giáo viên THCS và THPT trở lên thì phải được đào tạo chủ yếu vững vàng về chuyên môn khoa học, rồi mới bổ túc các kiến thức về sư phạm như là giáo học pháp. Do đó, cách đào tạo giáo sinh tại các trường sư phạm cũng phải thay đổi cho phù hợp. Ngoài ra, đối tượng tuyển dụng giáo viên phổ thông cũng nên mở rộng ra, lấy các cử nhân hay thạc sĩ, sau khi đã theo học một khóa ngắn hạn về chuyn mơn & nghiệp vụ sư phạm.
Phát triển loại hình đại học cộng đồng (comprehensive colleges)
Các đại học sư phạm hiện đang có sẵn tại mỗi tỉnh nên dần dần chuyền thành các đại học cộng đồng ngắn hạn (có nhiều chương trình học và thời gian học ngắn hạn khác nhau) để đào tạo các ngành nghề phù hợp với xu hướng phát triển, phục vụ nhu cầu sản xuất hiện hữu của địa phương mình. Thí dụ:
- Đồng Nai: ngành khai thác đá, khai thác gỗ & chế biến lâm sản, chăn nuôi, dệt may & giầy da. . .
- Vũng tàu: ngành khai thác dầu khí & hóa mỹ phẩm, đánh bắt & nuôi thủy sản, sửa chữa tàu. . .
- An Giang: chăn nuôi, trồng lúa, thủy lợi, hải sản, quản lý & điều hành hợp tác xã nông nghiệp . . .
Cải tổ hệ thống quản lý giáo dục
Để những việc cần làm ngay này từ mộng thành thực, cần cải tổ tòan bộ hệ thống giáo dục từ cấp tiểu học, THCS, THPT, lên đến đại học và sau đại học, nhất là vấn đề phân ban cho học sinh trung học. Cần phát huy những tinh hoa của nền văn hóa Việt Nam, và cũng cần chọn lựa, rồi tiếp thu có sàng lọc các tri thức, các tiến bộ khoa học của các nước tiên tiến trong khu vực và trên tòan thế giới. Hướng tới xây dựng một nền giáo dục tương đồng với nhau về cấu trúc và nội dung đào tạo để tạo điều kiện thuận lợi cho việc hòa nhập quốc tế.
Được như vậy, trước tiên là nhờ vào cái tâm, vào lòng yêu nước ngay trong bộ máy lãnh đạo và quản lý của ngành giáo dục cộng thêm sự cầu hiền, đóng góp ý kiến của toàn thể những ai quan tâm đến tiền đồ dân tộc Việt Nam.