|
|
 |
| Ngày 9/6/2009, chuyên trang TuanVietNam.net vừa tròn hai tuổi. TuanVietNam.net xin cảm tạ sự tin cậy, yêu mến, và sự cộng tác nhiệt tâm của các cộng tác viên - những chuyên gia kinh tế, chính trị - xã hội, quốc tế, văn hóa, giáo dục… và bạn đọc xa gần. |
 |
|
|
|
|
| Cùng với niềm say mê đặc biệt về hiến pháp của mình, dịch giả đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về sự ra đời của Hiến pháp Mỹ, như một lời lý giải cho rất nhiều người có cùng mối băn khoăn. |
|
|
| Cán bộ bớt giữ ghế, VN đã không có "những Vedan" |
| 03/10/2008 10:51 (GMT + 7) |
|
Giải quyết lịch sử bao giờ cũng khó. Bài học về môi trường có nhiều, nhưng có bài học, chưa chắc VN đã chịu học. Cán bộ bớt nhậu, bớt giữ ghế, tận tuỵ với nhiệm vụ, "những Vedan" đã không xảy ra - GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường nói.
|
|
 |
|
Sông Thị Vải liệu có thể trở lại hiện trạng ban đầu? Ảnh: Nongnghiep.vn | Khôi phục hiện trạng: Điểm chốt khó gỡ
Thông thường, với tư duy làm luật VN bao giờ cũng áp dụng mức tiền phạt hành chính thấp và có thể áp dụng các hình phạt bổ sung ở mức cao hơn. Với Vedan, áp theo luật hiện hành, tổng số tiền phạt với 13 tội danh chỉ hơn 200 triệu đồng. Tuy nhiên, yêu cầu cao hơn là phải khôi phục lại hiện trạng trước khi hành vi vi phạm xảy ra. Đây chính là điểm mấu chốt của vấn đề, và là điểm chốt khó gỡ.
Muốn khôi phục hiện trạng thì cần phải có đánh giá tác động đến mức nào và từ đó yêu cầu đối tượng vi phạm xử lý. Tuy nhiên, pháp luật VN lại không có quy định cụ thể về việc xử lý khôi phục ra sao.
|
Lực lượng cảnh sát môi trường cũng chỉ có thể thao tác ở một số khu vực, không thể bao sân, làm thay cho cơ quan quản lý nhà nước. | Đặc biệt, với môi trường, một khi bị tàn phá tới một ngưỡng nào đó, muốn khôi phục cũng không trở lại hiện trạng ban đầu được nữa.
Áp thuế để không ăn quỵt môi trường
Theo đánh giá, cái chết của sông Thị Vải do hoạt động sản xuất của Vedan chiếm tới 70%, do chất thải từ quá trình sản xuất bột ngọt từ tinh bột sắn rất khó xử lý, tàn phá môi trường lớn.
Thực ra, DN ăn quỵt về môi trường là điều bình thường trên thế giới. Nếu cơ quan chức năng không quản lý chặt, kiểm tra tốt, DN sẽ tìm mọi cách giảm tối đa chi phí để xử lý ô nhiễm và khắc phục những tác động xấu của sản xuất vào môi trường, bởi chi phí cho việc này rất tốn kém.
Ở các nước, họ có quy trình rất tốt để kiểm tra việc DN có giải quyết và xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường. Người ta còn áp dụng các loại phí hoặc thuế môi trường, tức là áp dụng công cụ quản lý bằng kinh tế. Đến lúc VN cũng nên áp dụng giải pháp này.
Ví dụ, với sản phẩm ô tô, giá thành rất khác nhau, mà nhiều khi không đơn thuần do chất lượng hoặc giá trị thương hiệu mà giá thành đội lên vì đã có hệ thống xử lý chất thải hiện đại, khói xe ra môi trường đã được khử gần hết C02, đạt chuẩn euro 2. Người tiêu dùng có quyền lựa chọn dùng xe giá rẻ hay đắt, tuy nhiên, nếu anh sử dụng xe giá rẻ và thiếu hệ thống xử lý chất thải, anh sẽ phải chịu một khoản thuế môi trường cao hơn. Dựa trên các thông số kỹ thuật cụ thể, người ta có thể lượng hóa được mức thuế tương đương.
|
Môi trường sạch là tài sản chung, ai cũng có quyền tận hưởng. Nếu gây ảnh hưởng môi trường nhiều hơn, anh phải có nghĩa vụ bù đắp lại những thiệt hại do mình gây ra bằng phí hoặc thuế môi trường. | Phí hoặc thuế môi trường được xem như một công cụ quản lý thứ hai của các nước, bên cạnh công cụ quản lý bằng hành chính đối với hệ thống xử lý chất thải trước khi ra môi trường. Khoản phí hoặc thuế này là phần trách nhiệm của người làm hỏng môi trường đối với những người khác.
Môi trường sạch là tài sản chung, ai cũng có quyền tận hưởng. Với việc sử dụng và sản xuất những sản phẩm rẻ nhưng tàn phá môi trường lớn hơn, ảnh hưởng môi trường nhiều hơn phải có nghĩa vụ bù đắp lại những thiệt hại do mình gây ra, do đó, phải đóng góp dưới dạng phí hoặc thuế.
Công cụ thuế môi trường được áp dụng phổ biến ở nhiều nước châu Âu, cả người sản xuất và người tiêu dùng, tùy vào từng sản phẩm, miễn là họ là người làm tổn hại môi trường.
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, không phải trường hợp nào cũng áp dụng thuế môi trường cao hơn cho người gây tổn hại lớn hơn. Đơn cử, lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất là nông thôn Trung Quốc, nơi họ sử dụng chủ yếu là than và củi làm khí đốt, nhưng không thể áp thuế cao hơn với đối tượng này.
Hình thức giải quyết vấn đề môi trường bằng biện pháp, công cụ kinh tế chỉ có thể áp dụng trong từng ngữ cảnh, trường hợp. Với VN, khu vực công nghiệp và dịch vụ có thể xem xét để áp dụng thu phí hoặc thuế môi trường, buộc họ thực hiện nghĩa vụ tài chính với hành vi gây thiệt hại môi trường.
Chúng ta thường hô hào khuyến khích sản xuất sạch, nhưng khuyến khích như thế nào lại chưa đủ đa dạng ngoài cơ chế được vay một phần vốn đầu tư từ Quỹ môi trường. Mà Quỹ chắc cũng không đủ sức để bao hết các dự án sản xuất sạch trên diện rộng. Thông thường, sẽ không DN nào chịu bỏ tiền mua công nghệ sản xuất sạch khi giá thành cao gấp đôi.
Để khuyến khích công nghệ sạch, VN có thể thực hiện chính sách đánh thuế cao với những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm, và giảm thuế cho những DN sử dụng công nghệ sạch. Từ đó, nhà đầu tư, DN cần tính toán, cân nhắc bài toán lợi nhất trên tổng các giai đoạn đầu tư.
Nếu chỉ khuyến khích bằng khẩu hiệu, hô hào suông thì rất khó làm cho môi trường sạch hơn. Nhà nước cần tạo động lực kinh tế cho DN lựa chọn công nghệ sạch.
Cảnh sát môi trường không thể bao sân, làm thay cơ quan quản lý nhà nước
Để bảo vệ môi trường, chắc chắn cần có một hệ thống hành chính để quản lý. Hệ thống đó thế giới đặt ra từ rất lâu và VN cũng tuân theo những chuẩn mực như vậy. VN đã áp dụng đánh giá môi trường chiến lược với mọi quy hoạch và ở từng dự án đều yêu cầu đưa ra đánh giá tác động môi trường và giải pháp môi trường trong quá trình sản xuất... Khi đã đi vào hoạt động, cơ quan hành chính tiến hành kiểm tra thường xuyên, đánh giá lại tác động môi trường, cả hiện trạng môi trường trước đó và thực tế vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh có độ vênh như thế nào.
|
Chúng ta thường hô hào khuyến khích sản xuất sạch...Thông thường, sẽ không DN nào chịu bỏ tiền mua công nghệ sản xuất sạch khi giá thành cao gấp đôi. Nếu chỉ khuyến khích bằng khẩu hiệu, hô hào suông thì rất khó làm cho môi trường sạch hơn. Nhà nước cần tạo động lực kinh tế cho DN lựa chọn công nghệ sạch. | Cũng phải thừa nhận, với môi trường, VN tiếp cận chưa lâu, trong giai đoạn đầu. Vấn đề môi trường mới được đặt ra từ thời điểm Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ra đời. Để thành lập một hệ thống quản lý tốt cho một vấn đề mới nhận thức là rất khó.
Thực tế, những công cụ thế giới đang dùng, VN cũng dùng để tiếp cận và quản lý, nhưng làm một cách thực chất, chính xác và hiệu quả thì VN còn xa mức đó. Ở nhiều nơi, nhiều ngành, chúng ta vẫn không quan tâm, hoặc quan tâm không triệt để.
VN có quan tâm tới hệ thống quản lý, đánh giá, kiểm tra môi trường nhưng chất lượng và hiệu quả còn chưa đảm bảo. Nói cách khác, ngay từ khâu đầu vào của giám sát quản lý môi trường cũng chưa thực chất, thiếu kiểm tra trong quá trình vận hành và đánh giá lại.
Với việc ô nhiễm của sông Thị Vải, chúng ta đã họp ở trung ương, ở địa phương cũng đến cả chục lần, nhưng mọi giải pháp đều không đến đâu, trong khi thủ phạm chính là Vedan thì chỉ mới được phát hiện cách đây chưa lâu, khi lực lượng cảnh sát môi trường nhập cuộc.
Người ta thường nói, với trách nhiệm quản lý thì chỉ cần các quan chức bớt nhậu, bớt giữ ghế..., tận tụy hơn với nhiệm vụ của mình thì những vụ việc như Vedan đã không xảy đến hoặc nếu có thì sẽ được xử lý sớm hơn và quyết liệt hơn. Nhưng lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ vẫn tồn tại lớn, kìm chân những nỗ lực vì môi trường song song với câu chuyện tăng trưởng.
Cũng phải nói thêm, bản thân việc thành lập lực lượng cảnh sát môi trường đã là bước đi tốt, tạo ra một công cụ hữu hiệu hơn để kiểm tra mạnh và tốt hơn. Việc thành lập lực lượng này là đúng, và có thể đã là hơi muộn với VN, khi môi trường đã bị tàn phá. Nghĩa là thực ra tư duy về kiểm tra môi trường chỉ vừa bắt rễ chưa lâu, để tạo lực đủ mạnh thúc đẩy một công cụ mới ra đời.
 |
|
TP.HCM lấy mẫu nước sông Thị Vải để tiến hành nghiên cứu đánh giá. Ảnh: TTO | Tuy nhiên, lực lượng cảnh sát môi trường cũng chỉ có thể thao tác ở một số khu vực, không thể bao sân, làm thay cho cơ quan quản lý nhà nước. Chúng ta cần xác định rất cụ thể trách nhiệm của mỗi bên, mỗi cấp như thế nào. Đến thời điểm này, vẫn chưa xác định được trong vụ việc Vedan, trách nhiệm của trung ương, của địa phương tới đâu.
Thâu nhận ý kiến của dân, sai phạm như Vedan đã không bị lọt
Bên cạnh công tác kiểm tra, VN cũng cần đẩy mạnh công cụ giám sát, chính là Quốc hội, HĐND các cấp, những cơ quan đại diện cho người dân và chính những người dân. VN cần xem lại cách thu thập ý kiến giám sát của dân và xử lý ý kiến giám sát ấy như thế nào.
Trong vấn đề môi trường, cũng như vụ việc Vedan, nhân dân chính là người phát hiện ra nhiều và cung cấp nhiều thông tin nhất. Tuy nhiên việc thu nhận và xử lý thông tin của VN vẫn còn khó và yếu. Không cải thiện, chúng ta khó có được hoạt động hiệu quả về thanh tra và kiểm tra môi trường, nhất là khi khu vực hành chính còn nhiều tồn tại, còn bất cập trong cả kiểm soát đầu vào và kiểm soát quá trình vận hành.
|
Với trách nhiệm quản lý thì chỉ cần các quan chức bớt nhậu, bớt giữ ghế..., tận tụy hơn với nhiệm vụ của mình thì những vụ việc như Vedan đã không xảy đến hoặc nếu có thì sẽ được xử lý sớm hơn và quyết liệt hơn. Nhưng lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ vẫn tồn tại lớn, kìm chân những nỗ lực vì môi trường. | Điểm chốt của việc đẩy công cụ giám sát chính là biết cách thu nhận thông tin của dân, tạo điều kiện để người dân được nói và có chỗ nói và được lắng nghe, từ đó xử lý nhanh, quyết liệt.
Google cách đâu chưa lâu đã đưa ra ý tưởng tận dụng công nghệ thông tin, tạo sự kết nối đến cả những nơi xa nhất, để người dân phản ánh tình hình môi trường liên quan tới biến đổi khí hậu và rất được hoan nghênh. Một ý tưởng "bảo vệ môi trường là sự nghiệp của nhân dân".
Cũng như vậy, VN có thể sử dụng công cụ chính là mạng lưới Internet để mọi người dân có thể đóng góp vào việc theo dõi môi trường, từ đó, tạo công cụ tốt để người dân giám sát môi trường.
Chương trình này có thể triển khai song hành với chương trình đưa Internet về nông thôn, hỗ trợ thông tin cho sản xuất nông nghiệp. Không chỉ giám sát, người dân sẽ trở thành mắt xích trong quá trình theo dõi hiện tượng môi trường, phát hiện những nơi ô nhiễm, điều mà chúng ta đang cố gắng làm bằng một hệ thống cồng kềnh mà chưa hẳn đã hiệu quả.
Muốn tăng cường giám sát của dân thì một trong những ưu tiên là phải nâng cao ý thức cộng đồng với môi trường, qua những hình thức truyền thông hiệu quả, song song với việc đào tạo lực lượng làm môi trường chính quy và đảm bảo chất lượng.
Tuy nhiên, cách thức truyền thông phải thay đổi, đa dạng hơn, tích cực hơn và bớt tính hình thức hơn. Đơn cử, thay vì tổ chức thi sáng tác văn nghệ về môi trường, sao không tổ chức để người dân thi các sáng kiến, giải pháp môi trường, bởi hầu hết các phát kiến có giá trị trong đời sống thực tế của VN đều từ những người lao động bình thường nhất.
|
Điểm chốt của việc đẩy công cụ giám sát chính là biết cách thu nhận thông tin của dân, tạo điều kiện để người dân được nói và có chỗ nói và được lắng nghe, từ đó xử lý nhanh, quyết liệt...Người dân sẽ trở thành mắt xích trong quá trình theo dõi hiện tượng môi trường, phát hiện những nơi ô nhiễm, điều mà chúng ta đang cố gắng làm bằng một hệ thống cồng kềnh mà chưa hẳn đã hiệu quả. | Không chỉ người dân là người sát việc, mà bản thân chính quyền cơ sở cần phải được giao trách nhiệm giám sát và quản lý chặt hơn. Nếu chúng ta có những quy định chế tài về xử lý trách nhiệm của cấp cơ sở khi để lọt vi phạm môi trường trên địa bàn, câu chuyện có thể đã khác.
Đương nhiên, chế tài trách nhiệm đó phải gắn với trách nhiệm của cá nhân cụ thể. Trách nhiệm đã gắn mà để xẩy ra vi phạm thì người có trách nhiệm phải bị xử lý nghiêm.
Phát triển và Bền vững: VN vẫn chưa vượt được tư duy cũ
Với hành vi lắp đặt hệ thống xử lý nước thải ngầm của Vedan đã đủ bằng chứng để có thể truy tố hình sự. Tuy nhiên, với nhiều trường hợp phá hủy môi trường của DN, cũng cần đặt ra trách nhiệm của cơ quan nhà nước, khi đã đặt ra yêu cầu môi trường quá thấp để chấp nhận và chào mời đầu tư, trải chiếu hoa rước họ vào. Nhà nước cần xử lý tốt bài toán đảm bảo gìn giữ môi trường, và có lợi cho cả nhà đầu tư và Việt Nam.
|
Ngay từ khâu đầu vào của giám sát quản lý môi trường cũng chưa thực chất, thiếu kiểm tra trong quá trình vận hành và đánh giá lại. | Câu chuyện Vedan lại trở về với bài toán muôn thuở của Nhà nước: lựa chọn cân bằng giữa phát triển kinh tế và bền vững môi trường.
Thời điểm này, VN vẫn chưa tính được lời giải hợp lý cho bài toán giữa phát triển và bền vững, chọn ưu tiên cho cái nào và mức độ ưu tiên đến cỡ nào. Muốn vậy, cần phải xem xét cả trong chiến lược phát triển và quy hoạch không gian. Hiện các địa phương thường để bền vững ở vị trí thấp, gây thiếu chắc chắn cho phát triển. Các tỉnh thi nhau trải chiếu hoa mời nhà đầu tư, gật dự án vô điều kiện, nhất là với các tỉnh ít dự án.
Đây là hạn chế trong bản thân tư duy quản lý của VN.
Mặt khác, trong nhiều trường hợp, quan chức gật đầu bỏ qua yếu tố môi trường khi nhà đầu tư đưa ra những hứa hẹn nhất định, vì lợi ích của cá nhân và của địa phương mình. Thậm chí, có thể có yếu tố tham nhũng can dự vào.
Bên cạnh đó, trình độ, năng lực và tri thức của cán bộ để xem xét thấu đáo, thấy được chiều sâu và tác động lâu dài đối với môi trường của các dự án cũng là một hạn chế lớn hiện nay. Đến khi nhận thức được tai họa thì đã quá muộn để ngăn chặn hoặc ngay cả khi ngăn chặn được thì cái giá phải trả cũng quá cao.
Nếu dự báo được, có những chuẩn bị cần thiết thì sẽ tốt hơn.
Xử lý vụ việc Vedan, cũng thử xem xét theo hướng, điều quan trọng là giải quyết câu chuyện môi trường hiện nay, ngăn chặn sự phá hủy tương lai, còn việc giải quyết hậu quả của lịch sử chỉ là một phần, đủ để răn đe, đủ để bù đắp, đồng thời không khiến các nhà đầu tư e ngại, rút dù, bỏ của chạy lấy người, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
|