- Vai trò của những nhà nghiên cứu độc lập như thế nào?
Lý tưởng nhất là VN có được những nhóm nghiên cứu độc lập với kiến thức nền khác nhau: như VDF, Fulbright hay Viện nghiên cứu phát triển Việt Nam... Những nhóm "think tank nhỏ" này cạnh tranh về mặt ý tưởng. Chỉ một tổ chức là không đủ. VN cần nhiều cơ quan với nhiều sáng kiến và cạnh tranh với những sáng kiến hay hơn, đưa ra các khuyến nghị chính sách thông qua truyền thông, báo chí, qua các hội nghị, báo cáo chính phủ.
Các cán bộ trong Chính phủ có thể so sánh chất lượng của các khuyến nghị chính sách này. Tôi nghĩ đó là cách tiếp cận so sánh trong xây dựng các think tank.
- VN cần một hệ thống pháp lý như thế nào cho sự hoạt động của các Hiệp hội, cơ quan nghiên cứu độc lập, thưa ông?
Việc thành lập Hiệp hội, trung tâm nghiên cứu ở VN khá khó khăn với những quy định chặt chẽ. Theo tôi, chẳng có lí do gì để e ngại các nhà nghiên cứu. Họ chỉ làm khoa học. Tôi không nghĩ các nhà khoa học thích những kẻ khủng bố.
VN đã mở cửa, nhiều lĩnh vực đã tự do nhanh chóng như thương mại, đầu tư. Các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước cũng nên được tạo thuận lợi để xây dựng và hoạt động tại VN với những gợi ý về hoạt động pháp lý. Các tổ chức này nên hoạt động trên cơ sở đăng kí thay vì cơ sở pháp lý.
- Vấn đề hạn chế hiệu quả thực tế của các cơ quan nghiên cứu là tài chính. Một số cơ quan thiếu ngân sách nghiên cứu. Một số khác được Chính phủ cấp vốn, do đó công tác nghiên cứu phần nhiều là "minh họa chính sách". Làm thế nào để giải quyết vấn đề?
Đúng là có hiện tượng thiếu ngân sách và cần sự hỗ trợ ngân sách từ Chính phủ. Hầu hết các cơ quan nghiên cứu của VN là cơ quan trực thuộc Bộ. Điều đó là bình thường.
Tuy nhiên, VN cũng cần những trung tâm nghiên cứu tư nhân, phi Chính phủ, tạo sự cạnh tranh chính sách từ các nhóm khác nhau, không chỉ trong chính phủ.
Tài chính là một vấn đề lớn ở một đất nước đang phát triển như VN. Làm thế nào để cung cấp tài chính cho những hoạt động này ngoài Chính phủ. Tôi nghĩ một trong các cách thức là vận động các DN nước ngoài lớn tại VN.
Tại Thái Lan, Viện nghiên cứu phát triển Thái Lan TDRI rất nổi tiếng. Đến thăm trụ sở của Viện này tại Bangkok, một tòa nhà hiện đại, bên trong những DN tài trợ ngân sách đến Mỹ, Nhật... tạo nên quỹ hoạt động cho Viện.
Chính phủ là người quyết định cuối cùng sau tham vấn
- Liệu những nghiên cứu của Viện sẽ còn khách quan khi được cung cấp tài chính như vậy hay sẽ chịu ảnh hưởng từ cách nhìn và sẽ bảo vệ lợi ích của DN tài trợ?
Khả năng này có thể xảy ra. Nhưng thực tế các DN tài trợ không can thiệp nhiều lắm. Họ quan tâm đến chất lượng và sự lâu dài của nghiên cứu. Tôi không nghĩ họ sẽ viết ra các văn bản mang tính lobby cho một ngành cụ thể. Kết quả nghiên cứu sẽ không chịu ảnh hưởng lớn của một DN.
|
Không thể đòi hỏi các cơ quan nghiên cứu hoàn toàn trung lập. Thay vào đó, các cơ quan này cần phải xác định rõ chỗ đứng của mình |
Tuy nhiên, tôi không nghĩ sẽ có sự khác biệt lớn khi sử dụng ngân sách công như ODA hay tài trợ từ DN. Bản thân ODA chính là ngân sách, là tiền thuế của người dân một nước, và ngay cả khi sử dụng ODA cũng không phải là tự do. Bạn có những trách nhiệm cụ thể và phải quan tâm đến tác động chính trị của nhóm này. 35 trong số 50 nhóm được DN tài trợ ngân sách có tiếng nói trung lập hơn nhóm do Chính phủ cấp vốn.
- Không thể tránh được tác động của các nhóm lợi ích trong hoạch định chính sách nhưng Nhà nước cần xây dựng một hệ thống pháp lý đề điều chỉnh hoạt động của các nhóm này. Ở VN vẫn thiếu một hệ thống các quy định về vấn đề này?
Tôi nghĩ Chính phủ VN quá lo ngại về những tổ chức như vậy. Ngay cả khi một nhóm chỉ ủng hộ các quyết định của Chính phủ, một nhóm khác ủng hộ cho các DN có vốn đầu tư nước ngoài, DN dân doanh trong nước... cũng sẽ rất tốt. Càng nhiều nhóm sẽ tạo nên sự cạnh tranh giữa các ý tưởng, quan điểm khác nhau.
Bạn không thể đòi hỏi một tổ chức hoàn toàn trung lập, bởi vì chính sách là một lĩnh vực gây tranh cãi, luôn có những người được lợi và những người chịu thiệt. Tôi không nghĩ là các cơ quan nghiên cứu nên hoàn toàn trung lập. Thay vào đó, các cơ quan này cần phải xác định rõ chỗ đứng của mình.
Ở Mỹ, có rất nhiều cơ quan nghiên cứu bảo vệ những quyền lợi rõ ràng của từng nhóm: đảng Dân chủ, đảng Cộng hòa... và mọi người đều biết điều này. Các cơ quan này cạnh tranh với nhau. Người dân không phải lo ngại về sự độc quyền của một nhóm.
Ví dụ VDF là một tổ chức do Chính phủ Nhật Bản tài trợ ngân sách do đó, rất có thể phản ánh một số quan điểm của Chính phủ Nhật. Chúng tôi nói VN cần học tập Nhật Bản. Một nhóm khác lại cho rằng VN nên học tập Mỹ, học tập Trung Quốc... Điều đó là bình thường.
Các cơ quan không bắt Chính phủ phải áp dụng chính sách, chỉ cố gắng thuyết phục. Nếu bạn không thấy thuyết phục, bạn tìm đến một nơi khác để lắng nghe quan điểm khác. Chính phủ VN mới là người đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách. Nếu có nhiều ý tưởng để lắng nghe và chất lượng được cải thiện, nó sẽ tốt hơn cho Chính phủ VN.
- Trong bối cảnh một nước đang phát triển như VN, liệu việc áp dụng mô hình về các cơ quan nghiên cứu như vậy có thích hợp hay không?
Tôi thường nói các bạn hãy đến xem các nước láng giềng đang làm như thế nào: Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan..., cách thức họ xây dựng và vận hành các viện nghiên cứu, cách thức tìm kiếm nguồn vốn hoạt động, nội dung của các báo cáo, những chỉ trích và đóng góp cho Chính phủ... Ở Thái Lan, bạn có thể thăm TDRI, ở Malaysia thăm Viện nghiên cứu chiến lược kinh tế, ở Hàn Quốc có rất nhiều viện nghiên cứu tốt, như KDI, KIEP...
|
Chính phủ VN mới là người đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách. Nếu có nhiều ý tưởng để lắng nghe và chất lượng được cải thiện, nó sẽ tốt hơn cho Chính phủ VN. |
Các trường Đại học cũng là nơi đưa ra những nghiên cứu, khuyến nghị chính sách tốt. ĐH Thanh Hoa của Trung Quốc chẳng hạn.
Tôi nghĩ VN có thể làm tất cả những việc này. Nếu các bạn thực sự nghiêm túc trong việc xây dựng các viện nghiên cứu, Chính phủ nên học tập các nước khác. Rất khó để khu vực tư nhân VN tiến hành việc này. Tất nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc Chính phủ tự mình xây dựng viện nghiên cứu, mà có thể xây dựng viện nghiên cứu tư, hoặc trong khuôn khổ trường Đại học và được hỗ trợ vốn bởi các DN nước ngoài lớn.
Khi VN trở thành nước thu nhập trung bình, rất sớm, các bạn sẽ cần một nhóm nghiên cứu thật tốt.
Cơ chế "hấp thụ" người tài
- Để có những viện nghiên cứu tốt cần những nhà nghiên cứu thực sự giỏi. Làm thế nào VN giải quyết được câu chuyện nguồn nhân lực?
Có rất nhiều người VN được nhận bằng Tiến sỹ tại Mỹ, Nhật Bản... Gặp gỡ những sinh viên VN làm Tiến sỹ tại Nhật, tôi thấy chất lượng hầu hết rất tốt. Khi họ trở về với công việc cũ, là giảng viên Đại học, là cán bộ của các Bộ ngành, họ sẽ không sử dụng được hết các kỹ năng và kiến thức mới thu thập đầy đủ. Đó là một vấn đề lớn.
Cần có cơ chế "hấp thụ" những người này, thông qua một mức lương cao hơn và cơ hội để được lắng nghe chính sách.
Mọi người làm việc để kiếm tiền đồng thời họ cũng làm việc vì những thay đổi thực sự họ có thể tạo ra trên thế giới.
Cần có một cơ chế để nhận biết những sinh viên giỏi đang học tập các nơi trên thế giới, Autralia, Singapore, UK, US, và khi họ trở về, Chính phủ và một số cơ quan khác nên tuyển dụng họ đặt họ ở vị trí cao hơn và cho họ thử sức để làm những nghiên cứu tốt.
Thành công sẽ thúc đẩy họ, không chỉ là lương. Môi trường làm việc tại cơ quan nghiên cứu sẽ tạo động lực cho họ làm việc chăm chỉ hơn khi quay trở lại VN.
Đáng buồn là hiện nay, động lực để sinh viên VN tại Nhật trở về vì quan hệ gia đình, vì thức ăn, văn hóa, không phải vì môi trường làm việc.
- Thu hút được những người giỏi từ nước ngoài trở về làm việc cho nhà nước là một công việc quá khó khăn. Ngay tại VN, nhiều cán bộ giỏi làm việc trong các cơ quan công quyền đang tìm cách "chạy trốn" khỏi cơ quan, gây làn sóng "chảy máu chất xám".
|
Các thay đổi đều hướng tới mở rộng cho khu vực tư nhân nhưng Chính phủ phải là người dẫn đường, lãnh đạo, cung cấp môi trường cho khu vực tư nhân hoạt động. Chúng ta không thể ngồi đợi khu vực tư nhân tự mình xử lý. |
Thực tế có những người sau khi đi học nước ngoài trở về làm việc cho cơ quan cũ trong một thời gian ngắn, sau đó họ bỏ ra ngoài kinh doanh riêng. Nhu cầu về một sự cải cách nhanh chóng lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu của VN đang trở nên cấp thiết.
Cần có sự lãnh đạo để làm nên một sự thay đổi thực sự. Ở VN rất khó để một cá nhân giữ vai trò lãnh đạo có thể tiến hành một việc nào đó. Chính phủ VN là hệ thống đồng thuận, quan hệ và thống nhất, không phải hệ thống của vai trò cá nhân.
Tuy nhiên, tôi hi vọng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân sẽ thay đổi được tình hình.
Tất cả các thay đổi đều hướng tới mở rộng cho khu vực tư nhân nhưng Chính phủ phải là người dẫn đường, lãnh đạo, cung cấp môi trường cho khu vực tư nhân hoạt động. Chúng ta không thể ngồi đợi khu vực tư nhân tự mình xử lý những vấn đề này.
Dám đối mặt với rủi ro để tạo sự thay đổi
- Chính phủ cần làm thế nào để thực hiện vai trò dẫn đường trong trường hợp này?
Chính phủ có thể thành lập Viện Nghiên cứu của Chính phủ, và sau 5 năm, có thể mở rộng cho sự tham gia của tư nhân. Sau 10 năm sẽ tiến hành tư nhân hóa.
Những nơi như Viện Quản lý kinh tế Trung ương CIEM họat động tốt, tại sao các bạn không chuyển đổi thành một Viện tốt hơn? Chính phủ nên chu cấp lương cao, trang thiết bị tốt, và một môi trường làm việc tốt...
|
Nếu e sợ những nguy cơ, người lãnh đạo không thể làm được điều gì để cải thiện tình hình VN |
Việc này đòi một lượng tiền lớn nhưng bạn có thể lựa chọn vài viện tốt, cung cấp tài chính và tạo điều kiện cho viện hoạt động, tuyển dụng những người giỏi, để những người này cạnh tranh. Sau 2-3 năm, nếu họ làm tốt, sẽ thăng chức cho họ, ngược lại, nếu làm không tốt thì sa thải.