Những ngày lịch sử trong hồi ức Đại tướng Lê Đức Anh

Trong hồi ức Đại tướng Lê Đức Anh, giai đoạn từ Mậu Thân 1968 đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là giai đoạn với nhiều thăng trầm, có thắng lợi và cả những tổn thất, với những khác biệt về đường hướng cách mạng miền Nam, nên có lúc ông đã phải đứng trước nguy cơ "ra toà". sự kiện nóng

Bị thất bại chiến lược chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ đã đưa sang Việt Nam gần nửa triệu quân tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" với mức độ được đẩy lên cao rất quyết liệt, nhưng đế quốc Mỹ vẫn đang mất dần quyền chủ động trên chiến trường. Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 12 (họp tháng 12/1965) đã nhận định: Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Sau khi phân tích tình hình mọi mặt, BCH Trung ương chủ trương: "Trên cơ sở tiếp tục quán triệt và vận dụng phương châm đánh lâu dài, chúng ta cần phải cố gắng cao độ, tập trung lực lượng của hai miền để tranh thủ thời gian giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn".

Đại tướng Lê Đức Anh

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 12, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã liên tiếp đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966, 1966 -1967, làm thất bại các bước leo thang chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên miền Bắc. Bị thất bại liên tiếp, nhưng Oét-mô-len - Tổng chỉ huy quân Mỹ ở nam Việt Nam còn đề nghị tăng quân chuẩn bị kế hoạch mở cuộc phản công lần thứ ba với quy mô lớn hơn.

Tuy chúng ta đã giành được nhiều thắng lợi, nhưng chưa làm chuyển biến cơ bản cục diện chiến tranh. Bởi vậy, một vấn đề lớn đặt ra là ta cần có một đòn chiến lược có ý nghĩa quyết định để tạo ra cục diện mới - một bước ngoặt của cách mạng miền Nam. Tháng 6/1967, Bộ Chính trị họp đề ra chủ trương: nhân lúc Mỹ đang lúng túng về chiến lược, lại đang chuẩn bị cho năm bầu cử tổng thống, quân và dân ta cần đánh một đòn quyết định, tạo chuyển biến nhảy vọt cho cuộc cách mạng miền Nam.

Tháng 10/1967, anh Nguyễn Văn Linh và anh Trần Văn Trà ra Trung ương họp. Sang tháng 11, hai anh trở vào phổ biến việc Bộ Chính trị quyết định Tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Để chuẩn bị cho tổng công kích, trên điều anh Hoàng Văn Thái vào làm Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền.

Bộ chỉ huy Miền khẩn trương triển khai nhiều biện pháp tổ chức thực hiện: Xây dựng quyết tâm, tạo sự nhất trí cao giữa Trung ương và chiến trường, tiến hành nghi binh bằng quân sự, tiến hành mọi công tác chuẩn bị theo một kế hoạch nghiêm ngặt, giữ ý định chiến lược của ta.

Sau khi có Nghị quyết của Bộ Chính trị về "Tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam" tháng 12/1967, việc chuẩn bị cho cuộc tiến công và nổi dậy càng gấp hơn.Ngày 7/1/1968, Thường vụ Trung ương Cục chỉ thị cho các khu, các tỉnh khẩn trương hoàn thành xây dựng kế hoạch. Ngày 21/1, Trung ương Cục ra Nghị quyết về thống nhất tổ chức chỉ đạo tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở khi Sài Gòn - Gia Định. Trung ương Cục và Quân ủy Miền trực tiếp chỉ lãnh đạo, chỉ đạo toàn bộ cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở khu Sài Gòn - Gia Định.

Bộ chỉ huy cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân (1968). Nguồn: earthstation1.com


Trước giờ công kích, anh Phạm Hùng thay mặt Trung ương Cục thông qua kế hoạch và gọi riêng từng đống chí Bí thư Tỉnh ủy lên giao nhiệm vụ.

Đêm 29 rạng sáng ngày 30/1/1968 (đúng giao thừa Tết Mậu Thân) cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta đã bắt đầu tại hàng chục thành phố, thị xã trên toàn miền Nam, trong đó trọng điểm là các mục tiêu ở Sài Gòn - Gia Định, Huế và Đà Nẵng.

Đây là cuộc tiến công và nổi dậy quy mô lớn nhất, cường độ mãnh liệt nhất, gây bất ngờ về chiến lược đối với địch.

Sau đợt tiến công trong dịp Tết, ngày 24/4/1968, Bộ Chính trị họp đánh giá kết quả và đề ra chủ trương tiếp tục tiến công địch, quyết định mở cuộc tổng tiến công nổi dậy đợt 2. Trọng điểm của cuộc tiến công là Sài Gòn - Gia Định. Thời gian mở đợt 2 từ ngày 4/5 đến hết tháng 6 năm 1968.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đợt 2, về phía ta bị tổn thất về người, vũ khí trang bị thiếu hụt nghiêm trọng, tính bất ngờ hoàn toàn không còn, một số căn cứ, cơ sở đứng chân bị lộ, bị phá vỡ.

Đầu tháng 8/1968, Bộ Chính trị họp nhận định tình hình và quyết định mở cuộc tiến công đợt 3 năm 1968, tiến hành từ ngày 17/8 đến ngày 28/9/1968.

Đợt 3 Mậu Thân của ta đã đẩy quân Mỹ - chính quyền Sài Gòn cũ tiếp tục sa lầy trong thế chiến lược “quét và giữ”, song, đợt 1 và đợt 2 cuộc tiến công và nổi dậy diễn ra liên tục, lực lượng quân số và hậu cần của ta bị tổn thất, Thời cơ và yếu tố bất ngờ không còn nên những hoạt động tiến công đợt 3 chủ yếu diễn ra ở vùng ngoại vi. Lực lượng của ta tiếp tục bị tổn thất, một số cơ sở nội thành bị vỡ…

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, lực lượng biệt động thành với hơn 100 cán bộ, chiến sĩ, thực tế chỉ 88 đội viên biệt động Sài Gòn vào trận. Trong vòng vây kẻ thù, cán bộ, chiến sĩ đặc công - biệt động Sài Gòn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, 74 người hi sinh hoặc sa vào tay giặc trong tư thế “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Với tinh thần dũng cảm vô song, lối đánh táo bạo và thông minh, cùng sự hi sinh to lớn của lực lượng biệt động đã góp phần xứng đáng vào việc tạo nên hiệu lực chiến lược lớn của cuộc tổng tiến công, đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của đế quốc Mỹ.

74 trong số 88 chiến sỹ biệt động Sài Gòn đã hy sinh sau Mậu Thân 1968.
Ảnh: quansuvn


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân từ đợt 1 đến đợt 2 và đợt 3, chúng ta đã giành những thắng lợi quan trọng cả về quân sự, chính trị, và ngoại giao. Qua sự kiện Tết Mậu Thân, phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam ngày càng lên cao. Thắng lợi lớn nhất của Tết Mậu Thân là đã đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Johnson phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị đàm phán với ta ở Paris, về lập lại hòa bình ở Việt Nam, chấm dứt việc đưa quân vào chiến trường miền Nam; thay Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Johnson không ra ứng cử Tổng thống nhiệm kỳ hai.

Chống "Việt Nam hóa chiến tranh"

Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân đã đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ - đỉnh cao nhất trong nỗ lực chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ, buộc Mỹ phải rút quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng rút quân, thì đồng thời Mỹ lại thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hòng duy trì âm mưu xâm lược dưới một hình thức mới, nhằm biến miền Nam Việt Nam thành bàn đạp, thành lực lượng mạnh để khống chế Đông Nam Á trong đó miền Bắc Việt Nam là chủ yếu và ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc.

Để thực hiện kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, chúng tiến hành theo ba bước. Bước một, đến 30/6/1970: Thực hiện “bình định” vùng đông dân để quân Mỹ rút được một bộ phận. Bước hai, đến 30/6/1971: “bình định” được tất cả các vùng đông dân để quân Mỹ rút được đại bộ phận lực lượng chiến đấu. Bước ba, đến 30/6/1972: Cơ bản, Sài Gòn chỉ huy được miền Nam. Hoàn thành giai đoạn cơ bản nhất của “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mỹ sẽ rút hết quân về nước.

Những vết tích sau cuộc tiến công tết Mậu Thân. Ảnh: Vietimes

Mỹ đề ra kế hoạch “phát triển tối tân hóa” quân chính quyền Sài Gòn cũ, chúng dự kiến tiến hành trong ba giai đoạn. Giai đoạn 1, với số quân 875.790 người. Giai đoạn 2, đưa quân số lên 992.836 người, bổ sung cho giai đoạn 1. Giai đoạn 3, đưa số quân lên 1.100.00 người. Trong quá trình rút quân, Mỹ vừa củng cố và tăng cường chính quyền Sài Gòn cũ quân, chính quyền Sài Gòn cũ quyền, tập trung lực lượng tấn công quyết liệt giành đất, giành dân và đánh phá niềm Bắc ác liệt hơn, kể cả máy bay ném bom chiến lược B-52.

Đến cuối năm 1971, quan Mỹ cơ bản đã chấm dứt vai trò chiến đấu trên bộ. Tính đến ngày 31/1/1972, tổng số quân Mỹ ở miền Nam chỉ còn 139.000. Tính theo đơn vị, 30 trên tổng số 34 lữ đoàn đã rút.

Như vậy, đến đầu năm 1972, Mỹ đã cơ bản thực hiện xong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Nhưng lúc đó, bộ đội ta, kể cả lãnh đạo chỉ huy chưa hiểu hết cái khó khăn khốc liệt của “Việt Nam hóa chiến tranh” và chưa tháy hết cái độc ác củ Mỹ, nên từ cuối năm 1968 cho đến cuối năm 1971, bộ đội chủ lực của ta phần lớn đã thoát ly khỏi địa bàn, làm mất chỗ dựa cho dân và cơ sở chống bình định.

Đến cuối năm 1968, đầu năm 1969, cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách vô cùng nghiêm trọng.

Đầu năm 1969, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ đảm trách Tư lệnh quân khu 9. Xuống tới nơi thấy rõ một thực trạng là địch đã bình định lấn chiếm gần hết vùng đông dân, chỉ còn căn cứ U Minh và khu giải phóng Cà Mau. Lực lượng chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đều mất sức chiến đấu… Tôi thay anh Cống làm Tư lệnh, anh Ba Bường thay anh Mười Thơ làm Bí thư Khu ủy. Mấy tháng sau, trên điều anh Võ Văn Kiệt xuống thay anh Ba Bường. Vấn đề Đảng lãnh đạo với chỉ huy được xác định rõ ràng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bộ tư lệnh Quân khu tập trung củng cố về tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang, khôi phục lại lực lượng chính trị, chỉ đạo phương châm tác chiến, phương thức đấu tranh, khôi phục lại thế và lực của khu 9, tạo nên một sự chuyển biến mới.

Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Miền, Quân khu 9 hết sức cố gắng để kiềm chế ngăn chặn kế hoạch “bình định cấp tốc” của địch. Đầu tháng 9/1969, Bộ tư lệnh Quân khu 9 đã lãnh đạo các lực lượng vũ trang quân khi đánh bại kế hoạch bình định U Minh lần thứ nhất của địch. Thắng lợi lần này đánh dấu bước đầu về tinh thần và tổ chức lực lượng của quân khu đã được củng cố, xốc lại để vượt qua những khó khăn non kém nhất mà đi lên.

Tháng 3/1970, các lực lượng vũ trang quân khu đã đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ 2 của địch.

Sau khi đánh bại địch lấn chiếm U Minh lần thứ 2, trong cấp chỉ đạo của quân khủ nổi lên những cách nhìn và những chủ trương khác nhau.

Cuộc đấu tranh giữa những chủ trương đó kéo dài đến tháng 9/1970 mới đi đến nhất trí trong hội nghị Khu ủy. Cuộc họp ở U Minh Hạ, vì địch càn, phải di chuyển tới ba lần. Tại hội nghị này, Khu ủy đã ra Nghị quyết cụ thể về việc bám trụ, trong đó chỉ rõ: Lực lượng vũ trang phải bám dân, sống trong dân, làm chỗ dựa cho dân, cùng với dân hình thành lực lượng tổng hợp tiến công địch. Bộ đội tập trung phải gắn với dân quân du kích, kết hợp chặt chẽ ba thứ quân thường xuyên tiến công địch. Phải xây dựng và phát triển lực lượng, nhất là củng cố, xây dựng bộ đội chủ lực, tạo điều kiện phản công, phá thế tiến công của địch.

Thực hiện Nghị quyết trên, Bộ Tư lệnh Quân khu đã phân công địa bàn cho các đơn vị, cơ quan bám trụ đánh địch. Nhưng việc bám trụ và đánh địch của các cơ quan trong Bộ Tư lệnh quân khu diễn ra trong tình thế hết sức căng thẳng. Lúc đó, Khu ủy có ý kiến khuyên quân khu nên di chuyển cơ quan về nam Cà Mau để có điều kiện ổn định làm việc. Chúng tôi nhất trí nhận định rằng, nếu chuyển về nam Cà Mau sẽ gặp trở ngại rất lớn; và nếu ta rút, địch sẽ lấn chiếm ngay, theo đó mất đất, mất dân. Được sự đồng ý của khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu hạ quyết tâm bám trụ ở U Minh Thượng, tạo thế xen kẽ và tấn công địch bằng lực lượng tổng hợp trên cả ba vùng chiến lược. Đồng thời, triển khai sở chỉ huy tiền phương của quân khu ở Long Mỹ (Cần Thơ), gần sát đồn địch.

Đầu tháng 12/1970, địch sử dụng lực lượng lớn mở cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ ba. Tình hình quân khu lúc này vô cùng khó khăn. Bộ đội phải ăn cháo nhiều bữa, lại phải đánh địch liên tục nên sức khỏe giảm sút. Đạn dược cũng thiếu nghiêm trọng. Lúc này hầu hết các tỉnh Nam Bộ đều bị địch chiếm, còn bộ đội chủ lực của miền đều sang hoạt động trên đất Campuchia. Do đó, địch rảnh tay điều động cả lực lượng tổng trù bị phối hợp với ba sư đoàn chủ lực tập trung bình định U Minh. Có lúc tình thế nguy cấp tôi phải điện cho Bộ chỉ huy miền, đề nghị cho một bộ phận chủ lực trở về nội địa tham gia đánh địch bình định. Thậm chí trong điện, tôi phải hạ bút viết: “Trong giờ phút nguy kịch này, những ai còn ở bên ngoài đất nước không tham gia chiến đấu đánh phá bình định với quân thù là có tội với Tổ quốc”.

Rừng U Minh xanh này đã từng là nơi chứng kiến những ác liệt của chiến tranh. Ảnh: travel.com.vn


Đến tháng 6/1971, về cơ bản địch lấn chiếm U Minh Thượng, một phần U Minh Hạ và đang có kế hoạch lấp kín 17 đồn ở U Minh, sau đó mở rộng lấn chiếm Nam Cà Mau. Nắm được ý đồ của địch, khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu quyết định mở một đợt phản công vào mùa mưa năm 1971 ở U Minh ngay trong vùng trọng điểm bình định của địch. Đợt phản công này ta đã thu được thắng lợi. Địch phải hủy bỏ kế hoạch “Tô dày, lấp kín U Minh”.

Năm 1971, Bộ Tổng tham mưu điều một số đơn vị từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường miền Nam, quân khu 9 cũng được 2 trung đoàn: Trung đoàn 10 và Trung đoàn 20. Bộ Tư lệnh Quân khu tiến hành củng cố lại thế bố trí lực lượng chiến đấu.

Để hỗ trợ cho đấu tranh ngoại giao, quân và dân ta đẩy mạnh tiến công chính trị và quân sự. Ngày 31/3/1972, trên chiến trường Trị Thiên, ta đã đập tan tuyến phòng thủ phía bắc Quảng Trị, giải phóng một vùng rộng lớn phía bắc và phía tây tỉnh Quảng Trị, tây Thừa Thiên. Ngày 5/4/1972, chủ lực B2 tiến công địch, giành thắng lợi lớn trên đường 13, chiếm thị trấn Lộc Ninh. Trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, bắt đầu từ đêm 6 rạng ngày 7/4/1972, các lực lượng vũ trang Quân khu 9 đồng loạt nổ sung tiến công địch với 6 đợt cao điểm, suốt từ tháng 4 đến tháng 8/1972, ta đã giành thắng lợi lớn.

Thắng lợi thu được của hai năm 1971-1972 đã làm thay đổi hình thái chiến trường có lợi cho ta. Từ chỗ bị địch lấn chiếm gần hết đất, hết dân (còn khoảng 2000 dân), hoàn toàn nằm trong thế bị động, chống đỡ địch đánh phá, Quân khu 9 đã gượng dậy và chuyển dần sang chủ động tiến công, đánh bại bước đầu chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - chính quyền Sài Gòn cũ.

"Ra toà thì tôi cũng phải đánh đã"

Hiệp định Paris chính thức được ký kết ngày 27/1/1973, có hiệu lực từ 7h ngày 28/1/1973. Ngày 29/3/1973, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Mỹ cuốn cờ về nước. Hiệp địn quy định quân Mỹ rút các lực lượng vũ trang còn lại của “hai bên Việt Nam” ở nguyên tại chỗ, ta duy trì trên chiến trường thế xe kẽ “da báo”, một thực trạng rất có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Ngày 28/1/1973, Hiệp định Paris có hiệu lực, theo quy định, hai bên ngừng bắn tại chỗ.

Ngày 29/1/1973 (24 giờ sau ngừng bắn), Bộ Tư lệnh Quân khu 9 đánh giá tình hình: “Địch ngoan cố tiếp tục chiến tranh” và chỉ thị cho các đơn vị kiên quyết đánh địch vi phạm Hiệp định. Ngày 2/2/1973, Thường vụ Khu ủy họp xác định: “Địch không thi hành Hiệp định, tẩphi tiếp tục chiến đấu giữ vững thành quả, trước mắt phải kiên quyết trừng trị địch vi phạm Hiệp định”.

Ngay sau khi Hiệp định được kí kết, Thiệu và chính quyền tay sai Mỹ đã điên cuồng xua quân lấn chiếm vùng giải phóng, xóa thế da báo, tràn ngập lãnh thổ… Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, tháng 2/1973, Tư lệnh vùng 4 chiến thuật đã triển khai kế hoạch bình định lấn chiếm rất tích cực, với khẩu hiệu: “Trên hòa bình, dưới chiến tranh; ngoài hòa hợp, trong bình định”. Kế hoạch bình định ở trọng điểm Tây Nam Bộ, năm 19973 của địch gồm 3 đợt:

-         Đợt 1: Bình định lấn chiếm Chương Thiện.

-         Đợt 2: Bình định lấn chiếm U Minh.

-         Đợt 3: Bình định lấn chiếm Cà Mau. 

Kế hoạch bình định lấn chiếm Chương Thiện chúng chia làm hai bước: Bước một, từ tháng 2 đến tháng 5/1973, lấy lại các vùng đã mất trước khi có Hiệp định và lấn chiếm các vùng quan trọng nhất. Bước hai, từ tháng 6 đến tháng 10, tiếp tục thực hiện kế hoạch bình định năm 1973 ở những nơi chưa làm được.

Đầu tháng 3/1973, Bộ Tư lệnh Quân khu xác định nhiệm vụ trung tâm của quân khu là: phá kế hoạch bình định, buộc địch phải thực hiện Hiệp định. Quân khu bố trí hầu hết các đơn vị chủ lực vào địa bàn trọng điểm. Vùng ruột Hậu Giang có trung đoàn 1 ở Bắc Long Mỹ, trung đoàn 2 và trung đoàn 10 ở Tây nam Long Mỹ, trung đoàn 20 ở Giồng Riềng. Vùng ruột Vĩnh Trà, có trung đoàn 3 ở Tam Bình. Sở chỉ huy cơ bản của quân khu ở U Minh Thượng. Sở chỉ huy tiền phương quân khu vẫn duy trì ở Tây Nam Long Mỹ.

Nắm được kế hoạch bình định lấn chiếm Chương Thiện của địch, Khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu, một mặt xin ý kiến của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Trung ương Cục, về quân sự xin ý kiến của Bộ Chỉ huy Miền, một mặt quyết tâm tiến công và phản công trừng trị quân địch vi phạm Hiệp định Paris. Trước mắt đẩy lùi và làm thất bại kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” lấn chiếm Chương Thiện của chúng. Khi nhận được bức điện: “Tất cả bộ đội lui về U Minh! R, Bộ chỉ huy Miền - Ký điện: Nam Ngà”. Tôi nói: bức điện này sai quy tắc, người ký tên không ghi rõ chức vụ gì cả. Giờ cứ triển khai theo kế hoạch mà khu ủy đã thông qua.

Giữa tháng 3/1973, địch mở cuộc hành quân cấp quân đoàn với lực lượng 30 tiểu đoàn đồng loạt đánh vào tây nam Long Mỹ. Cuối tháng 4, địch điều thêm lực lượng bảo an vào Chương Thiện, đưa tổng số quân tương đương 46 tiểu đoàn để tiếp tục thực hiện kế hoạch bình định, lấn chiếm. Song khi chúng tôi đang tổ chức đánh địch quyết liệt, thì Bộ chỉ huy Miền, chỉ thị (số 02) với phương châm “lấy đấu tranh chính trị làm cơ sở, đấu tranh vũ trang làm hậu thuẫn” và chỉ thị rút 2 trung đoàn về căn cứ U Minh để chỉnh huấn. Bộ chỉ huy Miền còn hai lần điện (số 05 và 07) yêu cầu T3 (mật danh Quân khu 9) phải thấy tình hình mới, phải có biện pháp mới và phê bình T3 không thi hành chủ trương của Trung ương Cục, đồng thời thông báo cho toàn Miền. Lúc đó dư luận chung cho rằng Tây Nam Bộ chúng tôi “xé Hiệp định Paris”.

Cuối tháng 5/1973, trên Miền có Hội nghị tổng kết công tác đấu tranh chính trị và binh vận. Đoàn cán bộ tổng kết của Trung ương và Trung ương Cục phê phán Khu 9 làm sai đường lối của trên và nhắc nhở các nơi khác phải thực hiện 5 cấm (cấm bao vây đồn bốt, cấm gỡ đồn bốt, cấm đánh địch bung ra, cấm pháo kích và cầm xây dựng ấp xã chiến đấu). Cùng thời gian đó, đoàn đại biểu binh vận và thanh nhiên của khu 9 đi R (Miền) dự hội nghị tiếp thu chủ trương của trên, Trung ương Cục cho phép về thẳng cơ sở phổ biến (không cần thông qua thường vụ Khu ủy), cho rằng, hiện nay lấy đấu tranh chính trị, binh vận làm gốc, nơi nào tấn công quân sự là sai lầm.
 
Anh Trung, Khu ủy viên phụ trách công tác binh vận vừa đi họp trên Miền về nói với tôi: “Trên R, có người đề nghị đưa anh ra tòa, vì anh không chấp hành Hiệp định”. Tôi bảo: Được, anh yên tâm đi! Nhưng anh không được nói với ai chuyện này. Tôi phải đánh đã. Nếu thua thì tôi ra tòa luôn một thể. Chủ trương này là của Khu ủy, anh cũng phải chấp hành cái đã.

Tưởng phải ra toà vì quyết đánh, ông Lê Đức Anh được phong Trung tướng sau đó.
Ảnh wikimedia.

Đến 30/8/1973, tức là hết thời hạn đợt 2 của địch, quân địch vẫn không hoàn thành được việc chiếm Chương Thiện, chưa đánh phá được U Minh. Lúc này cũng là thời điểm đã có và triển khai văn bản Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng (Nghị quyết chỉ đạo các địa phương ở miền Nam tiếp tục con đường bạo lực cách mạng, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ để tiến lên giải phòng hoàn toàn miền Nam). Các quân khu bạn được lệnh phản công. Tình thế mới của Quân khu 9 xuất hiện, địch yếu đi nhiều, ta tấn công liên tục.

Bước hai của địch từ tháng 6 đến tháng 10, chúng tiếp tục thực hiện việc bình định lấn chiếm Chương Thiện để cô lập U Minh. Một lần nữa, tháng 10/1973, địch vẫn không thực hiện được kế hoạch. Địch cay cú tập trung lực lượng đến 75 tiểu đoàn, chuẩn bị cuộc hành quân tháng 11 đánh vào Chương Thiện.

Ngày 6/11/1973, Thường vụ khu ủy và Quân khu ủy họp, chủ trương: “Phát huy thế chủ động và tư tưởng tiến công, kiên quyết bẻ gãy cuộc hành quân tháng 11 của địch, bảo vệ căn cứ, đồng thời tích cực chuẩn bị kế hoạch để chuyển sang tiến công trong mùa khô tới…”

Cuộc hành quân tháng 11/1973 của địch bị bẻ gãy hoàn toàn, từ đây địch chấm dứt bình định lấn chiếm Chương Thiện. Kể từ ngày có Hiệp định Paris, đến đây, riêng trên địa bàn khu 9, kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của chính quyền Sài Gòn cũ quân, chính quyền Sài Gòn cũ quyền Nguyễn Văn Thiệu cơ bản đã phá sản.

Lúc này, khu 9 nhận được điện của Trung ương gọi ra báo cáo. Quân khu đã cử anh Kiệt đi. Sau đó, trên gọi tôi ra báo cáo.

Ra đến Hà Nội, anh Văn Tiến Dũng gặp tôi bảo: “Về sức khỏe thì cậu cố gắng thêm. Còn về công việc thì cứ yên tâm về làm cho chắc. Cậu về nắm chắc tình hình và bàn với các anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà để triển khai công việc. “Công việc” thì các anh đó biết cả rồi".

Lúc bấy giờ bên Trung ương có làm bữa cơm, gọi tôi sang. Khi ăn có các anh Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ. Ăn xong, anh Thọ nói: “Báo cáo tình hình xong thì cậu trở về Miền ngay”. Anh Duẩn gặp riêng và nói rằng: “Về nói với anh Hùng, anh Trà, bàn trong nội bộ phải giải phóng nhanh nhất. Nếu để chậm thì chính quyền Sài Gòn cũ Sài Gòn nó lại hồn, nó cũng cố thì sẽ rất khó”. Anh nói hai lần “nó lại hồn, sẽ rất khó”. Rồi anh nói tôi sang báo cáo tình hình với Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Báo cáo xong, tôi trở về Miền ngay. Tôi đi theo đường Đông Trường Sơn. Vào tới Miền, tôi không thấy ai nhắc chuyện “ra tòa”, mà ít ngày sau, Bộ chỉ huy Miền nhận được thông báo quyết định của Trung ương phong cấp hàm cho tôi từ Sư đoàn bậc trưởng (tương đương Đại tá) lên Trung tướng. Và tôi được bổ nhiệm làm phó Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền. Lúc đó, anh Phạm Hùng làm Bí thư Trung ương Cục, anh Trần Văn Trà làm Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền, anh Hai Tưởng (tức Lê Văn Tưởng) thay vị trí của anh Trần Độ làm Phó Chính ủy Bộ chỉ huy Miền.

Lời dặn giải phóng miền Nam trong thời gian sớm nhất

Theo lời dặn của anh Lê Duẩn và anh Văn Tiến Dũng, tôi gặp và báo cáo với hai anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà. Anh Trà bảo: “Căn cứ vào việc nắm tình hình, xong thì cậu làm kế hoạch đi. Sau khi Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền có ý kiến thì triển khai luôn”. Anh Hùng cũng bảo tôi: “Làm sớm đi”.

Khi làm kế hoạch tác chiến, tôi bàn với hai anh Năm Ngà và Hai Tưởng, kế hoạch có ba nội dung:

-         Xây dựng lực lượng ở các đô thị và vùng ven đô.

-         Mở vùng giải phóng ra hướng Long An, kể cả các vùng nam của Long An, tức là cả phía Nam và phía bắc lộ 4.

-         Mở rộng hành lang Trường Sơn, trọng điểm là hai trục đường 14 và 20…

Thực trạng lúc này, bộ đội đánh tập kích thì được, nhưng đánh công kiên chưa ổn. Tôi đề nghị với anh Trà cho bộ đội tập huấn cách đánh cùng một lúc tiến hành mở hai cửa mở và lấy chi khu Đồng Xoài làm đối tượng thực tế để luyện tập. Các đơn vị chủ lực của Miền bắt đầu huấn luyện và hoạt động tác chiến theo hướng mới, kế hoạch mới.

Sau khi có Nghị quyết 21 của Trung ương, ghi nhận thành quả của hơn một năm ta đẩy mạnh đấu tranh vũ trang hỗ trợ trực tiếp cho đấu tranh chính trị và binh vận, bắt quân địch phải thi hành Hiệp định và chặn đứng được một cách cơ bản kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của chúng, thì thế và lực của ta đã được củng cố và phát triển một bước mới. Từ thế và lực mới này, chúng ta đã vạch ra kế hoạch tiến công mùa khô 1974-1975, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy. Để có “quả đấm chủ lực mạnh” cho cuộc tấn công và nổi dậy, Bộ chỉ huy Miền quyết định thành lập cho mỗi quân khu (trừ quân khu 6 và Sài Gòn) một sư đoàn nhẹ. Ngày 20/7/1974, Bộ chỉ huy 351 (sau đó đổi là Quân đoàn 4) được thành lập.

Chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ảnh: coutry-data


Cuối tháng 10/1974, Trung ương Cục nhận được điện của Bộ Chính trị gọi hai anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà ra Hà Nội họp. Trước khi đi, Trung ương Cục giao cho anh Kiệt thường trực bên Trung ương Cục và giao cho tôi thay vị trí chỉ huy của anh Trà.

Để chuẩn bị cho mùa khô 1974-1975, Bộ chỉ huy Miền chỉ đạo ngành hậu cần B2 làm tốt công tác chuẩn bị, đảm bảo lượng dự trữ thường xuyên từ 4 đến 6 tháng lương thực, thuốc và dụng cụ quân y; 3 đến 6 tháng xăng dầu và 1 năm vũ khí đạn dược.

Khai hai anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà lên đường ra Bắc họp, thì những ngày này, các lực lượng B2 cũng nhộn nhịp lên đường hành quân tới các vị trí tập kết, bước vào cuộc chiến đấu mùa khô theo kế hoạch. Trước tiên là tổ chức đánh Đồng Xoài. Vì Đồng Xoài là vị trí then chốt của tỉnh Phước Long cũng như của tuyến đường 14. Nhưng khi an hem đang gỡ hàng rào kẽm gai của địch để mở cửa mở cho một hướng tiến công vào Đồng Xoài, thì chúng tôi nhận được điện từ Trung ương, với nội dung không cho đánh Đồng Xoài. Tôi bảo anh em, mở xong hàng rào thì cài lại, đánh dấu để đó, giữ nguyên lực lượng lui ra bao vây. Chúng tôi sử dụng trung đoàn 271 thuộc Sư đoàn 3 để đánh vào Bù Đăng. Tôi nói với anh em khi đánh được Bù Đăng rồi, ta sẽ đánh Đồng Xoài. Đồng thời, tôi điện cho anh Trà biết quyết định điều chỉnh kế hoạch.

Bộ chỉ huy phân công mỗi người giám sát và chỉ đạo một hướng. Tôi và anh Hai Tưởng ở Sở Chỉ huy trung tâm (lúc đó ở Tà Thiết), chỉ đạo toàn chiến trường B2.

Sáng 14/12/1974, lực lượng Sư đoàn 3 bắt đầu nổ sung tiến công Bù Đăng. Sau khi đánh chiếm được Bù Đăng, chúng tôi quyết định nhanh chóng chuyển cuộc tiến công sang đợt 2, tiêu diệt chi khu Bù Đốp và Đồng Xoài.

Đường Trường Sơn lịch sử. Ảnh tư liệu.


Sáng 23/12, trung đoàn 165 cùng lực lượng được tăng cường, nổ súng tiến công Bù Đốp. Trước nguy cơ Bù Đốp bị tiêu diệt, tiểu khi Phước Long bị uy hiếp, trưa ngày 23, Quân đoàn 3 chính quyền Sài Gòn cũ dùng máy bay trực thăng đổ một tiểu đoàn và hai khẩu pháo 155 ly xuống Phước Bình. Lực lượng này hành quân đến phía tây Phước Quả, hướng Bù Đốp, ngăn chặn ta. Trên hướng chủ yếu, sư đoàn 7 lập tức triển khai lực lượng để tiêu diệt Đồng Xoài. 5h sáng ngày 26/12, trung đoàn 141 nổ súng tiến công chi khu Đồng Xoài. Đến 15h cùng ngày, đơn vị diệt mục tiêu cuối cùng là chốt cầu số 2. Sau khi đánh được Đồng Xoài thì phát triển lên đánh chi khu Phước Bình gồm cả sân bay Phước Bình và cao điểm Bà Rá. Đồng thời, điều Trung đoàn 16 ở Trảng Bàng Củ Chi lên phía Bắc thị xã Phước Long, sẵn sàng khi có lệnh, phối hợp đánh vào thị xã Phước Long. Khi ta đánh Bà Rá, Phước Bình, sân bay Phước Bình và xuất hiện Trung đoàn 16 ở phía Bắc thị xã Phước Long, thì địch hoảng loạn bỏ chạy hết.

Sau 4 ngày chiến đấu, ta đã diệt hai chi khu, nhiều đồn bốt, đánh tan hai tiểu đoàn bảo an, thu đợc nhiều vũ khí, giải phóng hoàn toàn lộ 14. Thấy đang đà thuận lợi, tôi hội ý trong Bộ chỉ huy Miền, quyết định tấn công đợt 3, phát triển lên hướng thị xã Phước Long. Nếu có điều kiện thì giải phóng thị xã, mà khó khăn thì bao vây thị xã, mở rộng hành lang nối liền với Tây Nguyên. Bộ chỉ huy chúng tôi họp và phân công ba người: tôi, Hoàng Cầm, Năm Ngà, mỗi người chỉ huy một hướng tiến công giải phóng Phước Long. Tôi điều thêm một đại đội xe tăng và lựu pháo 105 ly vào tăng cường. Sáng 31/12 ta phát lệnh nổ súng. Đến chiều ngày 06/1/1975 ta làm chủ hoàn toàn thị xã Phước Long, kết thúc thắng lợi chiến dịch.

Sau 24 ngày chiến đấu tiến công, ta đã diệt và làm tan rã hoàn toàn quân địch ở Phước Long, thu toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng, giải phóng tỉnh Phước Long với hơn 50 vạn dân.

Chiến thắng Đồng Xoài - Đường 14 - Phước Long có ý nghĩa là “trận trinh sát chiến lược” thăm dò khả năng quân chính quyền Sài Gòn cũ và sự can thiệp của Mỹ, làm sáng tỏ hơn những cơ sở để Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Thực hiện lời căn dặn của anh Lê Duẩn “phải giải phóng nhanh nhất”, sau khi đánh được Phước Long, Bộ chỉ huy Miền bắt tay vào làm kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn. Chúng tôi thảo phương án sử dụng lực lượng, lấy lực lượng tại chỗ làm chủ yếu, tính toán kỹ thấy thiếu 1 quân đoàn. Anh Phạm Hùng và anh Trà thống nhất trong Bộ chỉ huy Miền, điện xin Trung ương đưa quân đoàn 3 vào tăng cường cho B2. Cả Bộ chỉ huy Miền gần như thống nhất: sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn vào tháng 4/1975, vì sang tháng 5 đã là đầu mùa mưa.

Nhớ lại, những ngày này ở Bộ chỉ huy Miền làm việc rất khẩn trương. Cùng với việc soạn thảo kế hoạch là xây dựng “quyết tâm chiến đấu”, sơ đồ đã phác ra 5 hướng (bắc; tây bắc; tây - tây - nam; đông; đông - bắc) tiến công vào sào huyệt cuối cùng của quân thù. Khi hai anh Lê Đức Thọ và Văn Tiến Dũng được Bộ Chính trị cử vào, các anh xem và nói: “Kế hoạch làm tốt, nhưng phải thêm quân”. Và các anh cũng thấy nơi khó khăn nhất là hướng tây - tây - nam vì có nhiều sình lầy. Các anh cũng thống nhất với nhận định của Bộ Chính trị miền, đây là hướng tiến công rất quan trọng, nhất định ta phải nhanh chóng chia cắt quân địch trên tuyến quốc lộ 4, thì Quân đoàn 4 và quân chính quyền Sài Gòn cũ ở vùng đồng bằng song Cửu Long sẽ không thể kéo về ứng cứu cho Sài Gòn.

5 mũi tấn công hướng về Sài Gòn. Ảnh: wikimedia


Tôi và anh Hai Tưởng được đảm trác chỉ huy cánh quân tiến công trên hướng tây tây nam, một trong năm hướng tiến công, một trong năm cánh quân của trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Trước đà thắng lợi của ta ở cả Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ, ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị kịp thời bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền Nam trước mùa mưa. Ngày 1/4/1975, căn cứ vào sự phát triển tiến công dồn dập của ta ở chiến trường, Bộ Chính trị lại tiếp tục bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền Nam trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4/1975 trước mùa mưa. Ngày 7/4/1975, Bộ chỉ huy Miền họp quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị và bàn các giải pháp thực hiện.

Để thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị về kết hợp đòn tiến công quân sự với phong trào nổi dậy của quần chúng, Trung ương Cục và Quân ủy miền đã họp thông qua kế hoạch kết hợp tiến công với phong trào nổi dậy của quần chúng. Trong đó đẩy mạnh binh vận, đẩy mạnh phong trào ở vùng ven đô thị, tập trung vào phong trào ở Sài Gòn - Gia Định. Trung ương Cục cử anh Võ Văn Kiệt chuyên lo vấn đề tổ chức và chỉ đạo kế hoạch nổi dậy của quân chúng phối hợp với cuộc tiến công của các binh đoàn chủ lực ta vào thành phố. Trung ương Cục chỉ đạo các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tự giải phóng, với phương châm: xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh.

Ngày 8/4/1975, Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định (sau đổi tên thành chiến dịch Hồ Chí Minh) được thành lập, Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy: Phạm Hùng, Phó Tư lệnh: Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện (ngày 22/4 bổ sung Trung tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tư lệnh, Trung tương Lê Quang Hòa - Phó Chính ủy). Trước khi tổng công kích vào Sài Gòn, Trung ương Cục cùng Bộ chỉ huy chiến dịch về cơ bản, đã cài xong thế trận cô lập Sài Gòn - Gia Định.

Ngày 9/4/1975, ta bắt đầu cuộc chiến đấu tạo thế ở đông bắc - tây nam Sài Gòn và đánh địch ở toàn miền Đông Nam Bộ, đồng thời huy động lực lượng lớn nhất vào lịch sử kháng chiến chống Mỹ cho một chiến dịch tiến công quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam gồm 4 quân đoàn và một đơn vị tương đương quân đoàn, với đầy đủ binh khí kĩ thuật, với 5 cánh quân theo 5 hớng đã vào thế vây chặt Sài Gòn, đợi lệnh đồng loạt tấn công. Phong trào nổi dậy của quần chúng ở ven đô và nội đô cũng đã được chuẩn bị sẵn sàng chờ dịp vùng lên.

Ngày 26/4/1975, ta bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định, buộc Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện hồi 11h30 ngày 30/4/1975. Lần này, các tỉnh đồng bằng song Cửu Long, tự lực giải phóng địa bàn, góp phần cùng cả nước chấm dứt cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài 30 năm.

Ảnh: wikimedia


Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Toàn bộ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 đã toàn thắng. Như vậy, quân và dân ta đã đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ chính quyền Sài Gòn cũ, thực hiện thắng lợi và trọn vẹn di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thách thức bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước ngày nay

Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Bản lĩnh và trí tuệ là phẩm cách, tài năng và ý chí kiên định trước mọi hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử được thể hiện rõ trong quá trình hoạch định đường lối độc lập, tự chủ, quyết tâm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bản lĩnh và trí tuệ còn là năng lực sáng tạo của lãnh đạo và quần chúng trên cơ sở nắm vững quy luật cách mạng, quan điểm thực tiễn, biết địch, biết ta, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, biết tập trung giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng. Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam luôn giữ vững tính độc lập tự chủ, anh dũng và thông minh, trước mọi biến cố của lịch sử, kiên định mục tiêu mà mình đã lựa chọn.

Trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, tăng cường và mở rộng tình hữu nghị, hợp tác với mọi quốc gia, dân tộc trong khu vực và trên thế giới, vì hòa bình, dân chủ và phát triển. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, trước những vận hội mới, nhưng cũng không ít thách thức đang đặt ra trong quá trình toàn cầu hóa, hơn lúc nào hết, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam cần được phát huy cao độ để xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng biển, các hải đảo và vùng trời tổ quốc.

Hơn ba mươi năm đã trôi qua, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã lùi vào lịch sử, nhưng những giá trị lịch sử mà cha ông ta đã làm nên sau chiến thắng oanh liệt ấy, là hành trang vô giá hôm nay và cho các thế hiện mai sau. Việc nghiên cứu, tổng kết để rút ra những bài học kinh nghiệm là rất cần thiết.

  • Đại tướng Lê Đức Anh
* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu