Những hồi ức về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

(TuanVietNam) - " Lần đầu gặp anh Văn (Tên thường gọi củaĐại tướng Võ Nguyên Giáp - TS) , tôi thấy ở anh sự trang trọng, mực thước của một nhà sư phạm, sự thân mật, chân tình của người anh lớn đối với một người em nhỏ, bổ sung thêm cho hình ảnh đồng chí Tổng tư lệnh, nhà chỉ huy chiến lược trong chiến tranh mà tôi đã tìm hiểu nhiều năm"- nhà văn Hữu Mai. sự kiện nóng

Nhân dịp kỷ niệm 55 chiến thắng Điện Biên Phủ, Tuần Việt Nam xin trích giới thiệu từ hồi ký của nhà văn Hữu Mai - người được chọn để giúp đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi lại những hồi ức của ông. Tư liệu do gia đình nhà văn cung cấp, đầu đề và tít phụ do tòa soạn đặt. 

“Duyên nợ văn chương”

Từ những năm 60, nhân dịp kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Tổng cục Chính trị chủ trương cho xuất bản một tập hồi ký của các tướng, tá đã trực tiếp tham gia chiến dịch. Cách làm lúc đó là mỗi nhà văn gặp một cán bộ, nghe kể rồi ghi lại, thành những hồi ức cặp đôi: “người kể, người ghi”. Quyển sách sẽ không thể ra mắt bạn đọc nếu thiếu bài của đồng chí Tổng tư lệnh, người trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Tôi được chọn để giúp Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm việc này.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những người giúp việc. Từ phải qua: nhà văn Hữu Mai, trung tướng Hồng Cư, đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Bùi Đình Kế, nhà văn Phạm Chí Nhân.

Đây là một dịp may với tôi. Từ lâu, tôi đã coi Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ là những nhân vật trung tâm không thể thiếu trong bộ sử thi tương lai của mình. Tôi đã tìm hiểu về Đại tướng, đã bước đầu dựng chân dung Đại tướng trong Cao điểm cuối cùng, nhưng vẫn chưa có dịp được trực tiếp làm việc với Đại tướng.

Lần đầu gặp anh Văn (Tên thường gọi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - TS), tôi thấy ở anh sự trang trọng, mực thước của một nhà sư phạm, sự thân mật, chân tình của người anh lớn đối với một người em nhỏ, bổ sung thêm cho hình ảnh đồng chí Tổng tư lệnh, nhà chỉ huy chiến lược trong chiến tranh mà tôi đã tìm hiểu nhiều năm.        

Anh đưa cho tôi một đề cương 15 điểm, mỗi điểm ghi vắn tắt vài chữ, như: Hội nghị Bộ Chính Trị, Đường ra mặt trận, Đêm trăng bên bờ suối, Bữa tiệc bánh cuốn... Anh nói thêm về những đề mục mà tôi không hiểu. Ví dụ như “Bữa tiệc bánh cuốn” là bữa liên hoan chào mừng chiến thắng Điện Biên Phủ tại cơ quan Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng Tư Lệnh chỉ có một món duy nhất là bánh cuốn. Anh nói ngắn, diễn đạt rõ vấn đề, không thừa một tiếng. Anh kết thúc:

- Viết độ 15 chương.

Tôi nói:

- Thưa anh, cũng phải 15 chương. Nhưng thời gian chỉ còn một tháng!

Anh nhìn tôi rồi nói:

- Anh hiểu lầm rồi, tôi người miền Trung, nói “chương” là “trang”. 

- Tôi nghĩ: 15 trang không thể nói hết nội dung này...

Anh suy nghĩ rồi mỉm cười:

- Cứ làm đi rồi xem.

Thời gian này, anh Văn bị bệnh mất ngủ, bác sĩ không cho làm việc nhiều. Buổi làm việc tiếp theo được tổ chức ở một vườn ươm cây tại ngoại thành. Tôi theo anh đi dạo quanh vườn. Anh nói đêm qua mất ngủ, có rất nhiều chuyện về Điện Biên Phủ, nhưng hôm nay không biết nên nói gì và bắt đầu từ đâu.

Cuối buổi làm việc, tôi đề nghị, vì thời gian quá gấp, tôi cũng đã có một số tư liệu về những điều anh đã nêu trong đề cương, tôi tranh thủ viết ra trước để gợi ý anh nhớ lại các sự việc, sau đó sẽ sửa chữa lại theo ý của anh. Anh Văn vui vẻ đồng ý.

Nhà văn Hữu Mai (1926-2007) là người đã thể hiện nhiều hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có thể kể đến: Từ nhân dân mà ra, Những năm tháng không thể nào quên, Chiến đấu trong vòng vây, Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử…
Về sau, tôi biết cách làm việc của anh là khai thác tối đa những khả năng của cán bộ, anh rất thích những người giúp việc chủ động trong công việc. Mỗi lần gặp, anh thông qua từng trang tôi đã viết, phát hiện những chi tiết chưa chính xác, nói thêm những điều tôi chưa biết, và đặc biệt chú ý đến câu văn, từ ngữ, kể cả những dấu câu.

Trong suốt thời gian làm việc này, chỉ có một buổi hơi căng thẳng. Anh Văn chợt nhận ra trong bản thảo có nhiều chữ “tôi”, mà cả anh và tôi đều chưa tìm ra cách nào để “bớt” đi, vì bản thảo viết theo cách tác giả kể chuyện, phải dùng ngôi thứ nhất.

Buổi làm việc tiếp theo, anh nêu lên một giải pháp tránh chữ “tôi”, bằng những từ có tính tập thể, như Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy Mặt trận, v.v. Nhưng rồi chính anh lại nói: "Ngay những chữ này cũng cố gắng tránh dùng nhiều, vì người đọc vẫn có thể hiểu cũng là “tôi”!

Đến ngày cuối cùng của hẹn một tháng, nhà xuất bản nhận được bản thảo: “Một vài hồi ức về Điện Biên Phủ”, khoảng một trăm trang. Đây chính là phác thảo đầu tiên cho tập “Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” sẽ được hoàn thành ba mươi lăm năm sau đó.

Để kỷ niệm cho đợt làm việc này, anh Văn tặng tôi một cuốn sách với dòng chữ: “Chúc Hữu Mai viết văn hay, tiến mãi về phía trước trên con đường văn nghệ của nhân dân, của dân tộc, và để ghi nhớ những ngày đầu của mối “duyên nợ văn chương” đầy hứa hẹn”.

Ước mơ hoàn thành bộ hồi ức về kháng chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu thiên nhiên và người lính Trường Sơn
(Ảnh chụp trong chuyến Đại tướng kiểm tra một cung đường vận tải chiến lược Tây Trường Sơn - mùa khô 1972 - 1973)


Sau đó, nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân 1964, và nhân ngày giỗ đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh 1970, tôi lại giúp anh Văn viết tiếp hai tập hồi ức: “Từ nhân dân mà ra”“Những năm tháng không thể nào quên”. Khi làm công việc này, tôi nghĩ mình sẽ có dịp tìm hiểu thêm về những vấn đề lớn của chiến tranh, và tích lũy thêm tài liệu để xây dựng hình ảnh đồng chí Tổng tư lệnh trong bộ sử thi tương lai…

Đã có lần tôi thực sự bắt tay vào viết bộ sử thi. Năm 1984, tôi hoàn thành tập 1 của bộ sách “Đất nước”, mang tên “Những người tình nguyện”. Sách in ra lần đầu 32.500 cuốn, được sự chú ý của một đôi nhà phê bình.

Nhưng sau đó, bộ sách đã không được tiếp tục vì nhiều lý do. Tôi vướng một số công tác trước mắt không dành được thời gian. Nhưng khó khăn không chỉ ở vấn đề thời gian. Cuốn sách sẽ đụng tới những vấn đề lớn trong lịch sử chiến tranh, và sẽ không dễ xuất bản nếu tôi muốn viết một cách trung thực.

Lúc này, tôi nảy ra ý nghĩ có thể thực hiện mơ ước của mình, chưa phải là viết tiếp những tập sau của bộ “Đất nước”, mà bằng cách tập trung thời gian và những vốn liếng đã có về chiến tranh cùng với những kinh nghiệm viết hai tập hồi ức đầu tiên để hoàn thành bộ hồi ức về kháng chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Như lời nhà sử học Mỹ Bernard Fall, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người có thẩm quyền nhất để phát biểu về cuộc chiến tranh này. 

Anh Văn đã đồng ý với đề nghị của tôi, là viết tiếp bộ hồi ức về  kháng chiến, mà Từ nhân dân mà raNhững năm tháng không thể nào quên là hai tập mở đầu.

Ngay từ tập hồi ức đầu tiên, anh Văn đã không đồng ý sử dụng công thức “người kể người ghi” như những hồi ký cặp đôi khác; cách này chỉ thích hợp với việc kể và ghi lại những kỷ niệm nho nhỏ, chứ không thích hợp với những công trình mang tính tổng kết, được trình bày dưới dạng hồi ức.

Những người làm công việc này phải có công phu nghiên cứu nghiêm túc toàn bộ tiến trình chiến tranh ở cả hai phía ta và địch, dựa trên những văn bản, những nhân chứng sống, phải tự mình phát hiện những vấn đề mới để có những đóng góp thực sự với lịch sử.

Tôi bắt đầu dành phần lớn thời gian sáng tác cho công việc này.

Một nhân cách đặc biệt

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng năm 1967
Thực ra, đây là một công trình tổng kết về chiến tranh có tính tâm huyết của đồng chí nguyên Tổng tư lệnh, nếu không do một cơ quan tiến hành thì cũng phải do một bộ phận cán bộ được chỉ định với những phương tiện làm việc nhất định.

Nhưng lúc này, cơ quan của anh Văn rất ít cán bộ, bận bịu nhiều với công việc thường xuyên. Chỉ còn anh Văn và tôi thực hiện bộ sách, tuổi anh lúc này đã lớn, và tôi cũng không còn trẻ trung gì.

Tuy trước đây tôi đã chuẩn bị nhiều cho việc viết bộ sử thi của riêng mình, nhưng bộ hồi ức của đồng chí Tổng tư lệnh mang một tầm vóc khác và có những yêu cầu riêng. Tôi phải đọc lại hoặc đọc tiếp nhiều công trình tổng kết mới của ta, một số sách mới của những nhà sử học nước ngoài, và bổ sung thêm những tài liệu từ nhiều nguồn ở trong nước, cũng như nước ngoài, trong đó có hồ sơ của những nước tham chiến mới được giải mật.

Anh Văn dành nhiều thời gian nói với tôi những vấn đề lớn của chiến tranh, những sự kiện chỉ có anh mới biết với tư cách là người được Đảng phân công đặc trách về mặt quân sự trong cả cuộc chiến tranh.

Một việc rất quan trọng nữa là anh xác định sự đúng, sai của những tư liệu mà tôi đã thu thập được từ nhiều nguồn. Mặc dù anh Văn có một trí nhớ rất tốt, nhưng những tài liệu sử dụng trong hồi ức  đều dựa đến mức tối đa vào những văn bản, hoặc kiểm định bằng trí nhớ của nhiều người trong cuộc.

Yêu cầu của anh Văn đặt ra là bộ sách phải bảo đảm tính chính xác, có tính “toàn diện”, “toàn quốc”, không thiếu những chiến trường quan trọng, những con người tiêu biểu, nhiều trận đánh cần được miêu tả cụ thể. Thư viện riêng của anh có khá nhiều tư liệu, những công trình tổng kết về chiến tranh của Trung ương cũng như địa phương.

Nhưng vẫn phải tìm thêm ở những nơi khác. Một việc quan trọng là gặp các nhân chứng lịch sử. Có lúc phải tổ chức cả một cuộc họp nhiều tướng, tá lão thành chỉ để xác minh một chi tiết. Có lúc phải tra cứu rất nhiều tư liệu, sách nước ngoài để tìm hiểu về một trận đánh không có hoặc chỉ được ghi lại rất sơ sài  trong hồ sơ của ta.

Với loại hình hồi ức, ngoài tính khoa học, tính chân xác lịch sử, giá trị tổng kết, bộ sách còn phải mang cách cảm nghĩ, cách nhìn, tầm nhìn, văn phong... của anh Văn. Anh Văn còn là một nhân cách đặc biệt, rất thông minh, giàu nghị lực, có tư duy rất biện chứng, luôn luôn nghĩ đến cái chung tới mức cầu toàn, kết hợp với một tâm hồn giàu tình cảm, dễ rung động, không muốn làm ai bị tổn thương.

Anh Văn cũng có những yêu cầu riêng, kể cả những “cá tính” trong văn chương. Anh yêu cầu nội dung từng chương, từng đoạn, thậm chí từng câu phải rõ ràng, câu văn giản dị, không dùng cách diễn đạt tiêu cực. Anh Văn không thích những dấu chấm lửng, đôi khi cả những dấu nháy, rất ghét những câu chữ lặp lại…

Sau bước sưu tầm, hệ thống tài liệu và trao đổi với tác giả, tôi thường viết một mạch từ đầu đến cuối nhằm thể hiện những chủ đề lớn, những ý lớn, cũng là giữ hơi văn, lúc đầu chưa quá câu nệ đến câu chữ, chi tiết. Sau đó trên cơ sở bản thảo đã có, viết tiếp lần thứ hai, thư  ba, thư tư, thứ năm. Có những chương quan trọng viết cả chục lần.

Mỗi lần viết xong, tôi gửi anh. Có khi bản thảo gửi rồi anh chưa bố trí được thời gian đọc, tôi nhận thấy chưa được, lại viết tiếp lần khác, đề nghị hủy bản đã đưa. Không ít lần, anh phải mất công lục tìm vì bản đưa sau lẫn vào bản đưa trước, nằm trong chồng bản thảo dày cả mét!

Với những bản thảo đầu, anh Văn chỉ cho ý kiến về những vấn đề lớn hoặc những gì cần điều chỉnh trong bố cục. Đến những bản thảo sau, anh chú ý tới cả câu, chữ, dấu chấm câu.

Công việc của tôi tiến hành khá thuận lợi. Tuy vậy, phải qua mười lăm năm chuẩn bị và hoàn chỉnh, cuốn Chiến đấu trong vòng vây (1995) mới ra đời. Chiến đấu trong vòng vây là tập thứ ba tiếp theo tập thứ nhất: Từ nhân dân mà ra, và tập thứ hai: Những năm tháng không thể nào quên. Cuốn thứ tư: Đường tới Điện Biên Phủ, và cuốn thứ năm: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử được hoàn thành khá nhanh liên tiếp trong hai năm 1999-2000...

  • Hữu Mai
* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu