Le Clezio - nhà văn lữ thứ của giải Nobel

Suốt gần nửa thế kỷ qua, Jean-Marie Gustave La Clezio đứng tách rời mọi trường phái thi thố ồ ạt với nhau và hằng làm chấn động văn đàn Pháp cũng như thế giới - từ siêu thực, hiện sinh, cấu trúc, giải cấu trúc, tiểu thuyết mới, tân tiểu thuyết mới cho tới hiện đại, hậu hiện đại và nhiều thứ khác nữa.

 
Vậy mà văn nghiệp của ông, gồm hơn bốn chục đầu sách không hề chạy theo thị hiếu thời thượng, vẫn cứ nghiễm nhiên lần hồi dọn cho tác giả một chỗ ngồi ngày càng đặc thù trên văn đàn Pháp đương đại, xứng đáng với vinh dự tột cùng là giải Nobel năm nay.

Nguồn cuội

Nhà văn Nobel 2008 Jean-Marie Gustave La Clezio (Ảnh: nwsource.com)


Nhìn vào văn nghiệp tương đối đồ sộ này, từ cuốn truyện đầu tay Le Procèc-verbal (Biên bản, 1963) qua tập cảo luận Le Rêve Mexcicain Ou La Pensée In terrompue (Giấc mơ Mexcico hay là suy tưởng đứt đoạn, 1988) tới quyển tiểu thuyết vừa phát hành Ritournelle De La Faim (Đói khát khôn nguôi, 2008), giới phê bình và độc giả đều nhìn thấy ở J.M.G Le Cleizo một nhà văn nhân bản, sống trong mộng tưởng hơn là ảo tưởng, cùng với tầm nhìn xa, chỉ ra các hiểm hoạ mà nền văn minh vật chất phương Tây gây nên. 

Chính khía cạnh ấy tạo nên phong vị đặc biệt không ngừng toát ra từ mỗi trang giấy, dựng nên tầm vóc tác phẩm của ông.

J.M.G Le Clezio sinh năm 1940 ở Nice, thành phố ven bờ Địa Trung Hải, miền Nam nước Pháp, nhưng gốc gác quả thật xa xôi. Về mặt địa lý, quê gốc của ông ở tận hòn đảo Mauritius trên Ấn Độ Dương; về mặt huyết thống, mẹ ông là nhạc công nguyên quán miền Bretagne, Tây Bắc nước Pháp, cha là thầy thuốc mang quốc tịch Anh. 

Xa hơn nữa, vào cuối thế kỷ 18, ông tổ Francois Alexis Le Cleizo rời quê ra khơi xa tắp lập nghiệp ở hòn đảo bầy giờ mang tên là Ile de France (Đảo Pháp), sau đổi thành Mauritius khi lọt vào tay nước Anh năm 1810. 

Có lẽ vì vậy mà cho đến nay, nhà văn không cảm thấy đâu là quê hương thực sự của mình và không ngừng di chuyển khắp nơi, khi thì ở châu Âu, lúc lại ở Nigeria, Mauritius (châu Phi), rồi Panama, Mexico (Trung Mỹ), Thái Lan (châu Á), Albuquerque (Mỹ). 

Nhưng dù cư ngụ tạm thời nơi này nơi nọ, Le Clezio luôn miệt mài với chữ nghĩa, lặng lẽ xây dựng một văn nghiệp nay đã bề thế và chắc còn đồ sộ hơn nữa - bởi ông chỉ mới vào tuổi 68 và vẫn sung sức.

Vào ngày đoạt giải Nobel 9/10/2008 vừa rồi, văn nghiệp của Le Clezio đếm được có hơn bốn chục đầu sách, gồm nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, cảo luận… 

Có thể sơ lược điểm qua các tiểu thuyết như Le Procès- verbal (Biên bản, 1963- giải Renaudot), Désert (Sa mạc, 1980- giải Viện Hàn Lâm Pháp), Poisson D’Or (Cá vàng, 1997- giải Jean- Giono); tập truyện ngắn L’Africain(Ông Phi Châu, 2004); cảo luận L’Extase Matérielle(Xuất thần thể chất, 1967); Diego Et Frida (Diego và Frida, 1993); Ballaciner (Dạo qua nền điện ảnh, 2007). 

Mỗi đầu sách một thể cách riêng biệt nhưng đều có chung lối nhìn cuộc đời, hiện thực như nó xảy ra trước mắt, căng thẳng , xung khắc, hung bạo và, đồng thời, hệt như nhà văn mơ tưởng, hào hiệp, hài hoà, trơn bóng, con người và sự vật hoà hợp với nhau.

Kín đáo

Ngược hẳn một số đồng nghiệp của ông ở Pháp, chẳng hạn như “triết gia” Bernard-Henry Levy và nhà văn Michel Huoellebecq lúc nào cũng ồn ào tự cao tự đại, Le Clezio kín đáo, âm thầm xây dựng văn nghiệp của mình.  

Ngay cả khi nhận được tin đoạt giả Nobel, ông vẫn rất khiêm tốn nói rằng: “Đó là một sự lựa chọn dũng cảm của uỷ ban chấm giải. Tôi không biết mình có xứng đáng với giải Nobel hay không.”

Để giúp bạn đọc hiểu con người và phong cách nằm ngoài khuôn khổ thông thường của Le Clezio, chúng tôi xin nêu ra dưới đây mấy yếu tố then chốt tiềm tàng trong sự nghiệp của ông: 

Xứ Bretagne: Vùng miền Tây Bắc nước Pháp, vây quanh bởi đá hoa cương vừa cứng rắn vừa khắc khổ như con người bản địa là nguồn gốc gia tộc lâu đời của nhà văn. Le Clezio thường về đây mỗi năm để chung sống với con người Breton - dân xứ Bretagne vốn kiệm lời và thinh lặng như ông. 

Nice:
Thành phố ven Địa Trung Hải, nơi ông mở mắt chào đời và trải qua thời thơ ấu. Xa rời khi vừa mới lớn, sau thời gian dài du mục châu Phi, Á, Mỹ, mỏi gối chồn chân, nay ông hay trở về đây ngừng nghỉ. Rồi lại ra đi. Rồi lại trở về. 

Đảo Mauritius: Pháp gọi là Ile Maurice, nơi mẹ ông chôn nhau cắt rốn. Tác giả lấy khung cảnh hòn đảo này làm nền cho một số tác phẩm, đặc biệt trong truyện La Quarataine (Cách ly, 1995), thuật chuyện ông ngoại Alexis trở về đảo và phải chịu cách ly vì trên tàu nghi có người mắc bệnh truyền nhiễm. 

(Ảnh: telegraph.co.uk)


Châu Phi:
Nơi thuở nhỏ ông theo chân mẹ qua đó ở với cha bấy giờ làm thầy thuốc miệt truông rẫy nay thuộc nước Nigeria. Dưới mắt trẻ thơ, châu Phi đồng nghĩa với cuộc sống hoang dã. Trong cuốn tiểu thuyết Onitsha (Thị trấn Onitsha, 1991), có nhiều trang miêu tả cảnh trí tràn đầy nhục cảm. 

Sa mạc: Tác giả hay đặt chân tới đây, hoà mình với sa mạc. Jamia, bạn đời của ông, thuộc dòng bộ lạc du mục Aroussiyine miền Tây đất cát Sahara. Cuốn tiểu thuyết Désert (Sa mạc, 1980) hoạ lại cuộc đời phiêu bạt, dịp may và vận rủi xáo trộn của cha mẹ vợ ông khỏng thập niên 1950. 

Đạo lý: Năm 1981, Le Clezio bảo vệ luận án tiến sỹ lich sử với đề tài Relation de Michoacan (Lịch trình Michoacan), một tài liệu rất đáng tham khảo khi nghiên cứu các nền văn minh châu Mỹ trước thời người Âu thôn tính lục địa này. 

Tác giả đã sống nhiều năm ở Mexico, tìm hiểu truyền thuyết và huyền thoại các bộ tộc Aztec, Maya, từ đó rút ra đường lối suy tưởng dẫn tới một đạo lý khác xa đạo lý Tây phương.

Văn phong

(Ảnh: telegraph.co.uk)


Chúng ta có thể xem các yếu tố sơ lược kể trên như những thành phần tạo nên thứ “xi măng” làm nền cho văn nghiệp của Le Clezio. 

“tác giả của cuộc phiêu lưu đầy thi vị và trạng thái xuất thần đầy nhục cảm” và cũng là “ nhà thám hiểm khám phá tinh thần nhân bản mới, vượt lên trên và tiềm ẩn dưới nền văn minh đang ngự trị thế giới này” theo lời tuyên dương của Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển. Đó là về nội dung. Nhưng còn hình thức chuyên chở nội dung?

Như đã nói, Le Clezio không hề đua đòi với hạng văn chương thời thượng. Ngôn ngữ, văn phong của ông không tân kỳ, không kiểu cách - câu văn ngắn, gọn, dễ hiểu. 

Thử đọc một đoạn trích từ tác phẩm Ritournelle De La Faim (Đói khát khôn thôi, NXB Gallimard, trang 61) mới vừa phát hành: “Nàng đứng trước cổng công viên. Vào lúc hoàng hôn. Ráng chiều còn đọng lại dịu dàng, lóng lánh tựa ngọc trai. Chắc có mưa rào đang gầm trên dòng Seine”.

Đúng thứ văn tức là người.


MỘT “SỰ LỰA CHỌN HƠI KỲ CỤC”?


Việc trao giải Nobel văn học cho Le Clezio – “người khổng lồ cuối cùng của văn chương Pháp”- đã nhận được những lời ca ngợi từ nhiều phía. Nhưng cũng có những ý kiến bày tỏ sự thất vọng.

Marcel Reich-Ranicki - nhà phê bình văn học nổi tiếng nhất ở Đức (được mệnh danh là “Giáo hoàng văn học Đức”) - cho biết ông “dĩ nhiên thất vọng” vì một lần nữa giải Nobel không được trao cho nhà văn Mỹ Philip Roth, “người xứng đáng nhận giải này từ nhiều năm nay”. Ông cho biết không thể đánh giá Le Clezio vì “chưa hề đọc tác phẩm nào của tác giả này” (!). 

Nhà phê bình văn học nổi tiếng ở Áo Sigrid Loeffler thậm chí cho rằng Viện Hàn lâm Thuỵ Điển đã có một “sự lựa chọn hơi kỳ cục”. Bà đánh giá các tiểu thuyết của Le Clezio tỏ ra “đơn điệu và tẻ nhạt” và cho rằng ông là một “nhà lãng mạn quá muộn màng”, người “coi trọng sự quan sát thầm lặng vẻ đẹp của thiên nhiên hơn là một thực trạng xã hội nào đó, điều hơi xa lạ trong thời đại và văn học chúng ta”. 

Theo bà, Viện Hàn lâm Thuỵ Điển Le Clezio có lẽ chỉ vì quá lâu rồi văn học Pháp không có tác giả nào được trao giải Nobel(!).

Nhà văn đầu tiên trong lịch sử được trao giải Nobel Văn học (năm 1901) chính là một người Pháp: Sully Prudhomme. Trước Le Clezio đã có 12 nhà văn Pháp được nhận giải này, trong đó có những tên tuổi vĩ đại như Romain Rolland(1915), Albert Camus(1957) hay Jean-Paul Startre(1964). 

Như vậy, Pháp là một trong những nền văn học có nhiều tác giả đoạt giải Nobel nhất. Tuy nhiên, nhà văn Pháp gần nhất trước Le Clezio đoạt giải Nobel đã cách đây 23 năm- đó là Claude Simon (1985). 

Theo Trần Thiện Đạo (Thể Thao & Văn hoá Cuối tuần)


“Le Clezio thuộc loại nhà văn hạng ba”?


Theo “Sinh hoạt Tân báo”, nhà văn Trung Quốc Diệp Khuông Chính cho rằng LeClezio, người đoạt giải Nobel Văn học 2008 thuộc vào loại nhà văn hạng ba. Diệp Khuông Chính nói, ông đã đọc “Bút ký tố tụng” và “Tâm sự thiếu niên” của Le Clezio. “Đây là hai cuốn sách có ngôn từ rất đẹp, có lẽ các nhà thơ sẽ thích đọc hơn”, ông nói.


Diệp Khuông Chính năm 20 tuổi đã đọc “Tâm sự thiếu niên” của Le Clezio. “Hồi ấy tôi thích đọc cuốn này, nhưng niềm ưa thích ấy qua đi rất nhanh. Tác phẩm của Le Clezio tương đối thuần, sạch, không có ảnh hưởng sâu xa đối với thế giới tinh thần của người lớn. Hơn nữa tác phẩm của ông cũng không có cá tính rõ ràng, chỉ thể hiện một niềm say mê từ ngữ. Với người Trung Quốc, có lẽ đọc tác phẩm của ông là một sự xa xỉ” – ông nói.

Diệp Khuông Chính nói, việc Le Clezio được trao giải Nobel không chứng tỏ ông có ảnh hưởng sâu xa đối với văn học thế giới, mà chỉ có ảnh hưởng với nước Pháp mà thôi. Sau khi các nhà văn thuộc lớp người như ông qua đi rồi thì chỉ còn lại ông; tương tự như sau khi Thẩm Tùng Văn qua đời thì Ba Kim trở thành siêu sao văn học TQ. Đây thực tế là vấn đề phân biệt đối xử. 

Việc các tác phẩm của Le Clezio sở dĩ được giới thiệu ở Trung Quốc cũng không chứng tỏ tác phẩm của ông có tác dụng rất lớn, mà là do công tác phiêndịch văn học Pháp ở Trung Quốc luôn luôn làm rất tốt. “Tôi cảm thấy, trong số các nhà văn Pháp, Le Clezio còn chưa bằng Marguerite Duras.”

“Tác phẩm của ông thuộc vào loại có thói quen thẩm mỹ thập niên 80 thế kỷ XX; có thể tinh thần văn học của ông thì tinh túy hơn nhưng giải Nobel thì vẫn được xét chọn theo lýtưởng văn học thập niên 70-80” – Diệp Khuông Chính nói. 

Nhà văn Doris Lessing giải Nobel văn học 2007 cũng thuộc loại nhà tiểu thuyết có nhiều người đọc ở Anh, nhưng về sau bà lại triển khai các tác phẩm xung quanh tiểu thuyết khoa học tưởng tượng; trên một ý nghĩa nào đó thì thế giới tinh thần của bà sau này chưa trưởng thành.

Diệp Khuông Chính cho rằng, trên thực tế mấy năm nay ảnh hưởng của giải Nobel văn học đang dần dần giảm đi. Thập niên 50, 60 thế kỷ trước, giải Nobel văn học được coi là cái cột chỉ hướng gió trong văn học, nhưng tới ngày nay nó chỉ là sự truy nhận nhà văn, như một tấm bia kỷ niệm, từ lâu đã mất ý nghĩa kim chỉ nam. 

Ngay cả các nhà văn từng có ảnh hưởng tới văn học thế giới trong hai chục năm nay cũng rất khó lọt vào mắt Hội đồng xét thưởng. Điều này có quan hệ với tuổi tác của các vị trong Hội đồng đó – một nhóm cụ già 70-80 tuổi, tư tưởng và thói quen đọc sách của họ vẫn dừng lại ở thế kỷ XX.

“Ngày nay giải Nobel văn học không còn là điều làm người ta hồi hộp đợi chờ nữa” Diệp Khuông Chính nói. “ Ai được trao giải này cũng thế cả, đều không có ảnh hưởng sâu xa đối với văn học thế giới. Còn rất nhiều các đại sư thực sự có ảnh hưởng sâu xa đối với văn học thế giới thì lại bị Hội đồng xét thưởng bỏ qua.” 

Ngày nay giải Nobel đã không thể gây ra sự chú ý nhiều như trước, chưa quá ba ngày là người ta đã quên chuyện ấy rồi” – ông bổ sung.

Diệp Khuông Chính (Ye Kuangzheng) là nhà thơ nổi tiếng, nhà phê bình văn học và nhà xuất bản độc lập. Sinh năm 1969, hiện ở Bắc Kinh. Từ 1986 tới nay đã đăng hơn 800 bài thơ, có tác phẩm được in trong “Thi tuyển nhà thơ thế hệ IV Trung Quốc” và khoảng 60 thi tuyển khác. Từng nhận một giải thưởng thơ của Đài Loan và hơn 10 giải thơ trong nước. Ngoài ra còn biên soạn nhiều sách văn học khác. 

Từ 1990 trở đi ông bắt đầu viết “Sách tâm linh trong đô thị”, có ảnh hưởng quan trọng về mặt biểu đạt thi ca Hán ngữ. Năm 2006 viết một loạt bài báo phê bình lịch sử văn hóa như “Văn học chết rồi ! Đã sang thời đại văn học tương tác”, “Tuyên ngôn phục hưng văn học Trung Quốc”, “Vì sao Khổng Tử khóc ?” ... gây ra một cuộc tranh luận ồn ào trong giới văn hóa, học thuật, là sự kiện văn hóa có tính cột mốc đầu thế kỷ XXI.