Chủ nghĩa tư bản Mỹ và "bệnh" nghiện làm giàu

Cuộc khủng hoảng kinh tế năm ngoái, đánh vào vào trái tim của chủ nghĩa tư bản Mỹ là lĩnh vực tài chính, sẽ để lại nhiều dấu ấn lâu dài. Điều tiết tài chính, vai trò của các ngân hàng lớn, và quan hệ giữa chính phủ với các tác nhân chính trên thị trường chưa bao giờ như hiện nay. sự kiện nóng


Tuy nhiên, quan trọng hơn, đó là thái độ của dư luận cho thấy hệ thống của chúng ta phải thay đổi. Bản chất của cuộc khủng hoảng, và cách đối phó của chính phủ, dường như đang hủy hoại cảm giác của công chúng về sự công bằng cũng như tính hợp pháp của chủ nghĩa tư bản dân chủ.

Bằng cách cho phép các điều kiện gây ra khủng hoảng (nhất là sự tập trung quyền lực vào một số thể chế lớn), và với cách đối phó khủng hoảng mà chúng ta đã tiến hành (chủ yếu là các gói hỗ trợ lớn của chính phủ cho các ngân hàng và tập đoàn lớn), nước Mỹ ngày nay có nguy cơ chuyển hướng sang chủ nghĩa nghiệp đoàn ở châu Âu. Ngược lại, điều này đang gây nguy hiểm cho nhánh duy nhất của chủ nghĩa bản ở Mỹ, vốn từ trước tới nay không bị công chúng đồng hóa với tham nhũng và giúp quốc gia này tránh được những chỉ trích chống tư bản dân túy.

Những thay đổi trên phải chăng đang bắt đầu? Và nếu vậy, liệu đó có phải chỉ là một phản ứng tức thời trước suy thoái kinh tế sâu, hay là một thay đổi lớn và có hại hơn trong thái độ của Mỹ? Một số thông tin ban đầu không lạc quan lắm.

Ảnh minh họa (ubalt.edu)

Nghiện làm giàu

Một người từng làm cố vấn cho tập đoàn bảo hiểm nổi tiếng của Mỹ American International Group (AIG). Để tránh trường hợp anh gây quỹ hedge của riêng mình, AIG đã đề nghị ký với anh một thỏa thuận theo đó anh sẽ nhận được một khoản tiền bồi thường cho việc này. Đây là một đề nghị hoàn hảo. Nhưng không may cho người bạn của tôi, việc thanh toán khoản tiền theo thỏa thuận được thực hiện vào cuối năm 2008. Và kết quả là anh phải sống những tháng đầu năm 2009 trong khủng hoảng. Giữa cao trào của cơn oán giận phản đối các khoản tiền thưởng như vậy, anh đã từng nhận một số lời đe dọa ám sát. Anh còn chuẩn bị sẵn kế hoạch đưa vợ con ra nước ngoài để được an toàn.

Dù những lúc xảy ra chuyện như vậy không nhiều, nhưng đây là triệu chứng cho thấy một sự bất bình lớn hơn trong công chúng. Một cuộc thăm dò gần đây cho thấy 65% người Mỹ cho rằng chính phủ nên ngăn chặn chính sách thưởng của các tập đoàn lớn, trong khi 60% muốn chính phủ can thiệp để cải thiện cách các tập đoàn đang vận hành. Chỉ 5% người Mỹ nói rằng hoàn toàn tin vào chính phủ, trong khi 30% nói họ ngược lại. Tệ hơn, cứ ba người thì có một người nói họ không hề tin vào các tập đoàn lớn.

Tại Mỹ, cho đến gần đây, người ta vẫn nghiến răng chịu chấp nhận các nguyên tắc thị trường cơ bản và thậm chí dung thứ cho một số tác động tiêu cực của thị trường như gây ra bất công trong thu nhập. Chính điều này khiến cho chủ nghĩa tư bản từ lâu được đông đảo dân chúng Mỹ đặc biệt ủng hộ. Dạng tư bản tại nước này hoàn toàn khác biệt với ở bất cứ đâu trên thế giới vì hệ thống thị trường tự do và cởi mở độc nhất vô nhị của họ.

Chủ nghĩa tư bản không chỉ kêu gọi tự do doanh nghiệp, mà còn đòi hỏi các đạo luật và chính sách cho phép sự tự do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho những người mới đến tiếp cận các nguồn tài chính. Mỹ nhìn chung đang tiến gần sát tới sự kết hợp lý tưởng này. Đây là một kỳ công không nhỏ, khi mà các sức ép và các động cơ kinh tế không cho phép một sự cân bằng như vậy trong chính sách. Bởi trong khi mọi người đều hưởng lợi từ một thị trường tự do và cạnh tranh, chẳng ai kiếm tiền được bằng việc giữ hệ thống đó cạnh tranh và tạo sân chơi công bằng. Chủ nghĩa tư bản thực sự không có một hoạt động vận động hậu trường (lobby) mạnh mẽ.

Nhận xét trên dường như là kỳ lạ nếu nhìn vào hàng tỷ USD mà các công ty bỏ ra để vận động hậu trường Quốc hội Mỹ. Nhưng quả đúng là như vậy. Hầu hết hoạt động lobby tìm cách lật đổ sân chơi theo hướng này hay hướng khác, chứ không đảm bảo cho sự thăng bằng của nó.
 
Hầu hết là loại “vị doanh nghiệp” tức là nhằm thúc đẩy lợi ích của các công ty đang tồn tại, chứ không “vị thị trường”, tức là thúc đẩy cạnh tranh công khai và thực sự tự do. Các lực lượng cạnh tranh công khai đã lập nên các công ty nhằm chứng tỏ khả năng của mình; các tác nhân thị trường thành đạt thường dùng sức mạnh để hạn chế sự cạnh tranh này, và củng cố vị trí của mình. Kết quả là những căng thẳng nghiêm trọng nổi lên giữa mục đích vị thị trường với mục đích vị doanh nghiệp, dù chủ nghĩa tư bản Mỹ luôn điều tiết căng thẳng này tốt hơn bất cứ nước nào khác.

Ngoại lệ Mỹ

Trong một nghiên cứu mới đây, Rafael Di Tella và Robert MacCulloch đã chứng tỏ rằng sự ủng hộ của công chúng đối với bất kỳ dạng nào của chủ nghĩa tư bản ở các nước khác nhau một mặt gắn với khái niệm cho rằng cần cù lao động, chứ không phải là may mắn, sẽ quyết định thành công, mặt khác cho rằng nó có liên quan tới tham nhũng. Những kiểu gán ghép này đã giải thích lý do tại sao mọi người ủng hộ hệ thống tư bản Mỹ.

Theo một nghiên cứu mới đây, chỉ 40% người Mỹ cho rằng may mắn chứ không phải sự chăm chỉ đóng vai trò chính tạo ra khác biệt về thu nhập. Trong khi đó, 75% người Brazil cho rằng sự chênh lệch về thu nhập hầu hết là vấn đề may mắn, 66% người Đan Mạch và 54% người Đức cũng nghĩ vậy. Và bạn đã bắt đầu hiểu tại sao thái độ của người Mỹ đối với hệ thống thị trường tự do lại khác biệt như vậy.

Một số học giả cho rằng cách quan niệm về tính hợp pháp của chủ nghĩa tư bản chỉ đơn thuần là kết quả của một chiến dịch quảng bá thành công cho Giấc mơ Mỹ - một huyền thoại trong nền văn hóa Mỹ, nhưng không hẳn gắn với thực tế. Và đúng là các số liệu đã không thể cung cấp bằng chứng thuyết phục cho thấy sự năng động của xã hội trên toàn nước Mỹ cao hơn ở các nước phát triển khác. Nhưng sự khác biệt này lại xuất hiện rõ nét trong phân phối thu nhập, vốn được dư luận quan tâm nhiều nhất.

Ngay trước khi sự bùng nổ internet tạo ra nhiều tỷ phú trẻ, năm 1996, một trong bốn tỷ phú ở Mỹ được mô tả là “tự thân vận động” – so với con số chỉ 1/10 ở Đức. Và những tỷ phú tự lập ở Mỹ giàu có nhất – từ Bill Gates và Michael Dell đến Warren Buffett và Mark Zuckerberg – đều làm giàu thông qua cạnh tranh kinh doanh, mà không hề nhận hoặc nhận rất ít ưu đãi hay trợ giúp của chính phủ.

Điều tương tự không xảy ra ở hầu hết các quốc gia khác, nơi những người giàu nhất thường có xu hướng làm giàu nhờ các công ty mà sự liên hệ với chính phủ mang tính quyết định cho thành công. Hãy nghĩ về những nhà tài phiệt ở Nga, Silvio Berlusconi ở Ý, hay Carlos Slim ở Mexico, và thậm chí cả những ông trùm kinh doanh đầy quyền lực ở Hồng Kông. Họ làm giàu thông qua các công ty chủ yếu dựa vào ưu đãi của chính phủ: năng lượng, bất động sản, viễn thông, khai mỏ. Thành công của các công ty này thường phụ thuộc nhiều vào các quan hệ hơn là sáng kiến hay công việc kinh doanh.

Tại đa số các nước, cách tốt nhất để làm giàu không phải là có những ý tưởng tốt và lao động cực nhọc, mà bằng việc xây dựng các quan hệ mật thiết với chính phủ. Mối quan hệ tình thân này định hướng dư luận về một hệ thống kinh tế quốc gia. Khi được hỏi trong một nghiên cứu mới đây về điều quyết định nhiều nhất thành công tài chính, các ông chủ người Ý đã xếp yếu tố “quen biết một người có thế lực” lên đầu tiên. (80% cho là “quan trọng” hoặc “rất quan trọng”). “Năng lực và kinh nghiệm” chỉ xếp thứ 5, sau các đặc điểm như “trung thành và biết vâng lời”.

Các con đường khác nhau dẫn tới thịnh vượng nói trên cho thấy sự khác biệt về nhận thức. Chủ nghĩa tư bản Mỹ thực sự rất khác với các đối tác châu Âu, vì những lý do bắt nguồn từ lịch sử.

Gốc rễ của chủ nghĩa tư bản Mỹ

Tại Mỹ, không giống như phần còn lại của phương Tây, dân chủ phải có trước công nghiệp hóa. Trước khi xảy ra cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ hai cuối thế kỷ 19, Mỹ đã trải qua vài thập kỷ áp dụng phổ thông đầu phiếu, và nhiều thập kỷ phổ cập giáo dục. Điều này tạo ra một công chúng cầu toàn, không muốn bỏ qua sự bất công giữa ban ngày trong chính sách kinh tế.

Không hề ngẫu nhiên khi khái niệm luật chống độc quyền – một ý tưởng vị thị trường nhưng đôi khi chống lại các công ty – đã được nghiên cứu tại Mỹ từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Cũng không hề ngẫu nhiên khi đầu thế kỷ 20, bị kích động bởi một tờ báo tò mò và một phong trào dân túy chính trị (nhưng không phản thị trường), Mỹ đã có một thời kỳ tăng điều tiết của nhà nước nhằm giảm quyền lực của các công ty lớn.

Khác với châu Âu – nơi hầu hết những phản đối mạnh mẽ đối với sự thái quá của các công ty xuất phát từ các phong trào xã hội phản thị trường – tại Mỹ, sự phản đối này trực tiếp vì thị trường. Khi thẩm phán Louis Brandeis tấn công tổ hợp độc quyền về tiền tệ, ông đã không cố động chạm vào thị trường – mà chỉ cố làm cho thị trường tốt hơn. Kết quả là, người Mỹ từ lâu đã hiểu rằng lợi ích của thị trường và lợi ích của doanh nghiệp có thể luôn luôn song hành.

Chủ nghĩa tư bản Mỹ cũng phát triển vào lúc mà sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế còn rất yếu. Đầu thế kỷ 20, khi chủ nghĩa tư bản Mỹ hiện đại đang định hình, chi tiêu của Chính phủ Mỹ chỉ chiếm 6,8% GDP. Sau chiến tranh thế giới II, khi chủ nghĩa tư bản hiện đại thực sự hình thành ở các nước Tây Âu, chi tiêu công ở đây chiếm khoảng 30% GDP.

Cho đến khi xảy ra chiến tranh thế giới thứ nhất, Mỹ có một chính phủ liên bang quy mô nhỏ hơn so với các chính phủ trung ương ở các nước khác. Điều này một phần vì thực tế là Mỹ không phải đối mặt với mối đe dọa quân sự nào, cho phép chính phủ của họ chi tiêu một tỷ lệ tương đối nhỏ ngân sách cho quân sự. Bản chất liên bang của Mỹ cũng khiến nước này hạn chế quy mô của chính phủ trung ương. Khi chính phủ nhỏ và tương đối yếu, cách để làm giàu là bắt đầu từ một công ty tư nhân thành đạt.

Nhưng khi chi tiêu công càng lớn thì càng dễ kiếm tiền bằng việc trích từ các nguồn công cộng. Bắt đầu một công ty rất khó khăn và nhiều rủi ro – nhưng để nhận được một hợp đồng chính phủ thì dễ hơn nhiều, lại được đảm bảo. Và trong những quốc gia có chính phủ lớn hơn và nhiều quyền lực hơn, nhà nước ở đó có xu hướng nằm ở trung tâm hệ thống kinh tế, ngay cả khi hệ thống này tương đối tư bản hóa. Điều này có xu hướng phá hỏng hoạt động chính trị và kinh tế, cả trong thực tiễn lẫn trong nhận thức của công chúng: Phần của các nhà tư bản làm giàu nhờ quan hệ chính trị càng nhiều bao nhiêu thì dân chúng càng thấy rằng tư bản chủ nghĩa là bất công và tham nhũng bấy nhiêu.

Một đặc trưng khác của chủ nghĩa tư bản Mỹ là nó phát triển tương đối tách biệt với ảnh hưởng bên ngoài. Dù tư bản châu Âu (đặc biệt là ở Anh) đóng một vai trò lớn trong sự phát triển kinh tế của Mỹ thế kỷ 19 đầu 20, song các nền kinh tế châu Âu khi đó cũng không phát triển hơn nền kinh tế Mỹ - và trong khi các nhà tư bản châu Âu có thể đầu tư vào các công ty Mỹ hoặc cạnh tranh với các công ty này, họ cũng không thể chế ngự thị trường. Kết quả là, chủ nghĩa tư bản Mỹ phát triển ít nhiều theo kiểu hữu cơ, và vẫn cho thấy các dấu hiệu của các nguồn gốc này. Ví dụ đạo luật phá sản ở Mỹ rõ ràng thiên vị chủ nợ vì Mỹ sinh ra và phát triển như một quốc gia đi vay nợ.

Mọi chuyện rất khác ở các quốc gia có nền kinh tế tư bản sau chiến tranh thế giới II. Các nước này (gồm những nước châu Âu không thuộc không gian Xô Viết, một phần châu Á, và nhiều nước Mỹ La tinh) công nghiệp hóa dưới cái bóng khổng lồ của quyền lực Mỹ. Trong tiến trình phát triển này, giới ưu tú địa phương cảm thấy bị đe dọa bởi bóng ma đô hộ kinh tế của các công ty Mỹ vốn hoạt động hiệu quả hơn và tư bản hóa tốt hơn.

Để bảo vệ mình, họ chủ ý xây dựng một hệ thống không trong sạch, trong đó các mối quan hệ ở địa phương là rất quan trọng, vì nó tạo cho họ một lợi thế cố hữu. Các cấu trúc này đã được khẳng định trong nhiều thập kỷ sau đó: Một khi các hệ thống kinh tế và chính trị được thiết lập nhằm thưởng cho các quan hệ thay vì dựa vào tính hiệu quả, rất khó cải cách chúng, bởi những người nắm quyền là những người mất nhiều nhất nếu xảy ra thay đổi.

Ảnh minh họa (planet-positive.org)


Cuối cùng, Mỹ có thể đạt mục đích vị thị trường, không phải vị doanh nghiệp, bởi họ không bị tác động trực tiếp của chủ nghĩa Mác. Có thể kiểu chủ nghĩa tư bản mà Mỹ phát triển là nguyên nhân, cũng là kết quả, của sự thiếu vắng các phong trào Mác-xít trong nước này. Nhưng trong cả hai con đường đó, thái độ của người Mỹ đối với kinh tế học hoàn toàn khác với các nước phương Tây.

Tại những nước có các đảng phái xuất chúng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, các lực lượng vị thị trường và vị doanh nghiệp bị cuộc phải kết hợp với nhau để đấu tranh chống lại kẻ thù chung. Nếu một bên phải đương đầu với nguy cơ quốc hữu hóa (ví dụ, sự kiểm soát các nguồn lực nằm trong tay một số ít giới ưu tú chính trị), thì cả chủ nghĩa tư bản quan hệ (sự kiểm soát các nguồn lực này thuộc về một số ít doanh nghiệp ưu tú) cũng trở thành một giải pháp thay thế hấp dẫn.

Kết quả là nhiều trong số các quốc gia này có thể phát triển một dạng cởi mở và cạnh tranh hơn của chủ nghĩa tư bản vì họ không thể đủ sức chia rẽ phe đối lập Mác-xít. Tệ hơn, ngọn cờ thị trường tự do đã hoàn toàn thích hợp với các lực lượng vị doanh nghiệp, vốn được trang bị tốt hơn và sung túc hơn.

Nghịch lý là, khi sự chống lại các tư tưởng Mác-xít yếu dần, vấn đề này ở đa số các quốc gia nói trên trở nên tồi tệ hơn chứ không khả dĩ hơn. Sau nhiều thập kỷ liên kết, các lực lượng vị thị trường không thể tách ra khỏi phe vị doanh nghiệp. Mất đi phe đối lập về hệ tư tưởng Mác-xít và thiếu vắng một phe đối lập của tư tưởng vị thị trường, các lực lượng vị doanh nghiệp đã nắm quyền lực một cách dễ dàng. Không ở đâu điều này thể hiện rõ như ở Ý, nơi phong trào vị thị trường ngày nay hầu hết thuộc về một doanh nhân, đó là Thủ tướng Silvio Berlusconi, người dường như thường điều hành đất nước dựa trên lợi ích của đế chế truyền thông của ông.

Vì tất cả những lý do trên, Mỹ đã phát triển một hệ thống tư bản chủ nghĩa gần sát nhất tới sự kết hợp lý tưởng của tự do kinh tế và cạnh tranh công khai. Vì vậy, hình ảnh mà nhiều người Mỹ nghĩ về chủ nghĩa tư bản là hình ảnh của các câu chuyện về những người nghèo làm giàu nhờ chăm chỉ lao động như Horatio Anger, hình ảnh sau này đã tạo ra Giấc mở Mỹ.

Ngược lại, tại hầu hết các nước khác trên thế giới, chẳng ai biết đến Horatio Anger, và hình ảnh về sự năng động xã hội bị choán bởi các câu chuyện Công chúa lọ lem Cinderella hay Nàng Eva nhỏ bé Evita: hình ảnh tưởng tượng hơn là những giấc mơ thật. Cách hiểu như vậy về cơ hội đã giúp cho chủ nghĩa tư bản trở nên phổ biến và được đảm bảo ở Mỹ.

Nhưng vì hệ thống thị trường tự do dựa trên sự ủng hộ của công chúng, và sự ủng hộ này trong một chừng mực nào đó lại tùy thuộc vào cảm nhận của dư luận về việc hệ thống này có công bằng không, nên bất cứ sự xói mòn nào trong cảm nhận đều đe dọa chính hệ thống này. Sự xói mòn đó xảy ra khi các mối quan hệ với chính phủ, hay quyền lực của những người đương chức đối với thị trường, vượt qua sự cạnh tranh tự do và công bằng thực sự như cách để làm giàu và thành công. Nhưng chính phủ và các công ty lớn có động lực lớn để thúc đẩy hệ thống theo hướng này, và vì vậy cả hai bên, nếu không kiểm soát, sẽ đe dọa dạng thức đặc thù của tư bản chủ nghĩa ở Mỹ.

Dù Mỹ có một lợi thế lớn là xuất phát từ một mô hình cao hơn của chủ nghĩa tư bản và phát triển một hệ tư tưởng để hỗ trợ nó, hệ thống của nước này vẫn dễ bị tổn thương trước các sức ép – và không chỉ khi xảy ra khủng hoảng.

Hệ tư tưởng có sức thuyết phục nhất cũng không thể bỏ qua được các điều kiện và những lý lẽ sinh ra nó. Chủ nghĩa tư bản Mỹ cần những người bảo vệ có trọng lượng, có thể hiểu các mối đe dọa mà nó phải đối mặt và có thể làm điều tương tự với công chúng. Nhưng 30 năm trở lại đây, khi mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản toàn cầu yếu dần và biến mất, người bảo vệ chủ nghĩa tư bản không tăng nhiều, trong khi những lời xúi giục chủ nghĩa nghiệp đoàn thì lớn mạnh trông thấy. Điều này đã tạo điều kiện bùng phát cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang phải đối mặt và khiến chúng ta không nhìn thấy lối thoát.

  • Quốc Thái (theo nationalaffairs.com)

Mời theo dõi tiếp phần 2

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu