Nghiên cứu Biển Đông không như mong đợi, tại ai?

Nhà nước cần phải xem xét cơ chế phê duyệt đầu tư kinh phí nghiên cứu khoa học của mình, phải đặt hàng đúng người, đúng việc, chứ không nên rải mành mành - học giả Việt Long lên tiếng. sự kiện nóng

LTS:  Tuanvietnam xin tiếp tục chủ đề "nghiên cứu Biển Đông", nhân Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ 4, khai mạc sáng 19.11.2012 tại TP HCM, với cuộc trao đổi của phóng viên Huỳnh Phan với nhà nghiên cứu Việt Long, một trong số ít học giả Việt Nam có các bài viết được xuất bản trên các tạp chí nghiên cứu quốc tế.

Chưa tuân thủ quy trình

Ông là người có bài viết đăng cả trong nước lẫn nước ngoài. Xin ông cho biết cách viết và đề tài có gì khác nhau không?

Tất nhiên, đối với chuyện viết thì đối tượng độc giả khác nhau, cần có cách viết khác nhau.

Mình viết cho người Việt đọc, hay tác giả Trung Quốc viết cho độc giả người Hoa, đều nhằm mục đích khẳng định chủ quyền, nâng cao ý thức tự tôn dân tộc. Nhưng viết để thuyết phục được thế giới lại là một chuyện khác. Cái đó các nhà nghiên cứu của Việt Nam còn phải phấn đấu để có những bài viết trình bày nhiều bằng chứng hơn, lập luận chặt chẽ hơn, trích dẫn nguồn tài liệu theo đúng quy định quốc tế.

Về mặt này, Trung Quốc cũng chẳng khá hơn chúng ta nhiều. Nhưng họ có một bộ máy tuyên truyền to lớn, bài bản, có sự phối hợp nhịp nhàng, và cứ lặp đi lặp lại suốt ngày, suốt tháng.

Đảo Len Đao. Ảnh: Hoangsa.org.

Cái chính chúng ta hướng tới là phải tham gia tích cực các hội thảo, các diễn đàn khoa học quốc tế, tranh luận khoa học trên cơ sở vận dụng luật quốc tế, có được nhiều bài viết nghiên cứu có chất lượng trên các tạp chí quốc tế, phê phán các bất đồng trên cơ sở khoa học và tôn trọng lẫn nhau.

Chúng ta có chính nghĩa, nhưng chúng ta phải thể hiện và làm dư luận tin tưởng vào sự chính nghĩa của chúng ta.

Được biết ông một trong số ít ỏi những người, nếu không nói là duy nhất, có bài báo khoa học đăng trên những tạp chí hàng đầu về hải dương như "Ocean Development & International Law", trong khi đối với Trung Quốc con số đó, theo PGS Ramses Amer gấp cả chục lần. Xin ông cho biết lý do?

Vấn đề nằm ở chỗ, không phải các nhà nghiên cứu khác của Việt Nam không đủ trình độ. Chủ yếu họ chưa chú ý tuân thủ đúng cái qui trình của các tạp chí quốc tế .

Chẳng hạn, chép từ bản này qua bản kia ở Việt Nam không cần dẫn chiếu (reference) vẫn được chấp nhận. Nhưng gửi sang bên kia không có dẫn chiếu là họ gạt. Tiếng Anh cũng khó, nhưng có thể vượt qua được, nhưng tuân thủ qui trình quan trọng hơn.

Thế làm cách nào ông vượt qua được?

Cho tới nay tôi có khoảng gần hai chục bài viết đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín. Nhưng để đạt được điều đó cũng trần ai lắm, anh ơi.

Tôi đặt cho mình mục tiêu một năm phải có 1-2 bài đăng trên những tạp chí hải dương hàng đầu. Tiếng Anh, đối với tôi, cũng là chuyện chật vật rồi, nhưng việc gửi đi gửi lại có khi mất 6 tháng, thậm chí 9 tháng, mới được đăng. Có khi bị từ chối. Họ kiểm tra từng reference (tài liệu tham khảo) một.

Viết chung với một học giả quốc tế có phải là một cách khắc phục các điểm bất lợi trên không, thưa ông?

Hợp tác với các tác giả nước ngoài  phần tiếng Anh chúng ta sẽ đỡ phải lo, nhưng ý tưởng rõ ràng vẫn phải độc lập. Những gì thống nhất thì cùng thể hiện. Tùy theo sự đóng góp của từng tác giả, có những bài tác giả Việt Nam đứng tên trước, có những bài người nước ngoài đứng tên trước.

Hợp tác có nhiều hình thức, nhưng để bền lâu vẫn phải trên cơ sở khoa học và tôn trọng ý kiến của nhau. Đó là kinh nghiệm của tôi khi hợp tác với các bạn nước ngoài.

Còn những gì không thống nhất thì có thể viết riêng để bảo vệ quan điểm của mình. Chẳng hạn, tôi vẫn tiếp tục có những bài đứng tên riêng, thể hiện quan điểm độc lập của mình.

Tôi cũng chú trọng hợp tác, khuyến khích các tác giả Việt Nam khác tham gia viết bài cho các tạp chí quốc tế. Hiện nay, đội ngũ viết bài cho các tạp chí quốc tế đã tăng nhiều, xuất hiện những gương mặt mới cả trong nước cũng như ngoài nước như Nguyễn Đăng Thắng, Vũ Hải Đăng, Dương Danh Huy, Lê Minh Phiếu, Phạm Thanh Vân...

Đặt hàng đúng người, đúng việc

Theo ông, các nhà nghiên cứu Biển Đông ở Việt nam gặp phải những khó khăn gì, về ngân sách chẳng hạn? Như vụ động đất ở Thủy điện Sông Tranh vừa rồi, các nhà khoa học cũng bảo vì thiếu tiền nên phải cóp y nguyên số liệu của nước ngoài, thay vì tự khảo sát?

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu Việt Nam cứ kêu Nhà nước không quan tâm, chứ theo tôi được biết, với các chương trình cấp nhà nước như KC 9, KC10, KC15 về Hoàng sa - Trường sa, mỗi đề tài cũng ngốn của Nhà nước mấy tỉ. Trong điều kiện của Việt Nam, như thế là cố gắng lắm rồi.

Có điều, kết quả lại không hoàn toàn như mong đợi, và đó là lỗi tại ai? Theo tôi, Nhà nước cần phải xem xét cơ chế phê duyệt đầu tư kinh phí nghiên cứu khoa học của mình, phải đặt hàng đúng người, đúng việc, chứ không nên rải mành mành mỗi nơi một chút.

Hơn nữa, cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học hiện nay cực kỳ phức tạp, không hiệu quả, không khuyến khích được nghiên cứu. Nhiều khi thời gian nhà khoa học đi lo chuyện giải ngân còn nhiều hơn thời gian anh ta để tâm vào nghiên cứu.

Cái này không chỉ trong khoa học mà trong cả kinh tế. Những tháng đầu năm ngồi chờ tiền để triển khai công việc. Những tháng cuối năm tiền thúc giải ngân không để sang năm sau. Chất lượng công việc sẽ khó phù hợp với đồng tiền bỏ ra.

Ngược lại, nhà khoa học cũng phải chủ động xác định hướng nghiên cứu của mình, tìm cách động viên các nguồn lực để thực hiện. Như ở phương Tây, giới học giả họ tự nghiên cứu chứ không chỉ chờ Nhà nước.

Anh có biết một bài báo tôi viết cho "Ocean Development & International Law", mất cả hơn nửa năm, được trả nhuận bút bao nhiêu không? Hai bản in offprint bài viết của mình. Không một đồng nhuận bút. Bởi họ cho rằng được xuất hiện trên tạp chí quốc tế của họ là một niềm vinh dự lắm rồi.

Theo tôi, đã là nhà khoa học, nhà nghiên cứu, phải có sự say mê, phải tìm mọi cách đạt được mục tiêu của mình, để quan điểm của mình được chấp nhận, chứ không ngồi chờ. Tất nhiên sự trợ giúp kinh phí là quan trọng, nhưng không phải là quyết định cho một nhà nghiên cứu khoa học thực sự.

Quan liêu chứ không cấm đoán

Thế còn việc tiếp xúc nguồn tư liệu? Ông có gặp nhiều khó khăn khi tìm hiểu tư liệu để viết bài báo khoa học không?

Nguồn tư liệu cũng khá phong phú. Nhà nước cũng đầu tư tiền đi sưu tập ở các nước mang về. Chúng ta cũng nên sàng lọc ra những gì có giá trị thực sự, cần thiết thực sự, những gì đã có, những gì chưa có. Điều đó sẽ giúp các nhà nghiên cứu đỡ mầy mò, dẫm chân nhau trong công tác nghiên cứu, sưu tầm tư liệu.

Chẳng hạn bản gốc của Thiên Nam Thư chí lộ đồ thư, hay Hồng Đức bản đồ, chúng ta chụp ở Nhật Bản, và biết ở đó còn nguồn, để sau này, nếu cần thiết, phải đối chiếu.

Có người phàn nàn đi vào Viện Hán - Nôm xem mấy cái Châu bản cũng có sự khó khăn, và tôi cũng gặp khó khăn tương tự. Nhưng, theo tôi, chắc chủ yếu do cơ chế quan liêu của mình, chứ không hẳn Nhà nước cấm đoán. Chúng ta thiếu người, thiếu phương tiện, và đội ngũ làm tư liệu kém - đó là những rào cản đối với những nhà nghiên cứu.

Nhà nước cần thể hiện vai trò nhạc trưởng trong việc tập trung, phân loại tư liệu. Chúng ta cần đánh giá cái gì mật, cái gì quý, cần bảo quản và chỉ cho tiếp xúc các bản sao, độ giải mật, đối tượng được tiếp xúc, cái gì công khai, giống như các viện lưu trữ quốc tế vẫn làm.

Chúng ta nên hết sức tránh cái gì cũng là mật, là nhạy cảm, làm các nhà nghiên cứu khó tiếp xúc được với tư liệu để so sánh, phân tích. Tư liệu với nhà nghiên cứu cũng như cơm, bánh mỳ. nếu không có thì làm sao ra tác phẩm, sao ra báo cáo, tham mưu, tư vấn cho Chính phủ, đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái.

Còn nữa

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu