Lỗ kim lọt Du lịch Tiền Giang
Luật chưa đủ chặt và rõ đã khiến Công ty cổ phần Du lịch Tiền Giang chui lọt qua lỗ kim pháp lý. Liệu đây có phải trường hợp điển hình duy nhất về chương trình bán vốn nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua?
Chưa đủ bằng cớ để kết luận về sự sai sót, nếu có, của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và UBND tỉnh Tiền Giang trong việc "để" ông việt kiều Hoàng Kiều ngồi vào ghế Chủ tịch HĐQT Công ty này. Bởi đơn giản, nếu chiếu theo "rừng" luật xung quanh quy định chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty cổ phần thì chưa thể phân định rõ trắng đen.
Ngày 17-5-2007, SCIC đã nhận bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại CTCP Du lịch Tiền Giang (DLTG) từ UBND tỉnh Tiền Giang với giá trị sổ sách phần vốn nhà nước là 2,1 tỷ đồng trên tổng số vốn điều lệ 7 tỷ đồng (tương đương 30% vốn điều lệ). Từ cuối năm 2008, SCIC đã triển khai bán vốn tại một số doanh nghiệp trong đó có Công ty này. Việc bán vốn được thực hiện thông qua Công ty cổ phần Chứng khoán An Bình (ABS). Phiên đấu giá đã diễn ra tháng 2-2009 và con trai ông Hoàng Kiều - Việt kiều Mỹ - đã trúng giá mua toàn bộ 30% vốn nhà nước từ SCIC. Song trước đó, trong đợt bán đấu giá lần đầu của Công ty năm 2005, ông Hoàng Kiều đã mua được hơn 32% và vợ ông đã nắm giữ 34% của DLTG. Gia đình ông Kiều đã nắm trong tay hơn 96% cổ phần và nắm quyền điều hành Du lịch Tiền Giang.
Vốn nhà nước được thoái ở đây có đúng luật, có thất thoát, có minh bạch hay còn điều gì khuất tất? Vấn đề sẽ được làm rõ nếu trả lời được các câu hỏi sau đây.

Thứ nhất, Du lịch Tiền Giang có phải công ty đại chúng vào thời điểm 2-2009? Nếu là công ty đại chúng thì tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 49% và SCIC bán vốn mà không xem xét đến tỷ lệ này là sai.
Theo quy định tại Điều 25 Luật Chứng khoán, công ty đại chúng gồm có: công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán hoặc Trung tâm Giao dịch Chứng khoán; công ty có cổ phiếu được ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên.
Vào thời điểm tháng 2 năm 2009, việc hạn chế tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Quyết định số 36 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 73 của Bộ Tài chính không còn hiệu lực (thay vào đó Cam kết WTO về vấn đề hạn chế sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng) và các ngành nghề kinh doanh của CTCP Du lịch Tiền Giang vào thời điểm tháng 2 năm 2009 không bị lệ thuộc vào các hạn chế về sở hữu vốn nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh trong một số lĩnh vực dịch vụ nhất định.
Đối chiếu với quy định trên, vào thời điểm 2-2009, CTCP Du lịch Tiền Giang không thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng. Cổ phiếu của Công ty chưa được niêm yết tại Sở GDCK hoặc Trung tâm GDCK. Và theo SCIC, Công ty mới chỉ có 42 cổ đông và số vốn điều lệ đã góp 7 tỷ đồng.
Nhưng vào thời điểm thực hiện cổ phần hóa năm 2005, DLTG đã dành một tỷ lệ nhất định để bán đấu giá công khai nên vẫn được coi là công ty cổ phần đại chúng do chào bán cổ phần ra công chúng? Theo quy định về chào bán công khai của Luật Chứng khoán thì việc chào bán công khai ra công chúng phải được đăng ký với Ủy ban chứng khoán Nhà nước và đáp ứng các điều kiện về chào bán ví dụ như có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đang ký chào bán từ 10 tỷ đồng trở lên.
Tuy nhiên, Luật Chứng khoán lại đưa ra một số ngoại lệ trong đó có trường hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp Nhà nước trong quá trình chuyển đổi thành công ty cổ phần tại Điều 13.2 Luật Chứng khoán. Như vậy, căn cứ quy định tại Điều 13.2, Luật Chứng khoán thì trường hợp của Công ty Du lịch Tiền Giang vào thời điểm cổ phần hóa năm 2005 không phải thực hiện đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng. Việc chào bán cổ phần của doanh nghiệp Nhà nước khi thực hiện cổ phần hóa (cụ thể là Công ty Du lịch Tiền Giang vào thời điểm năm 2005) không chịu sự điều chỉnh và không được coi là là việc chào bán cổ phần ra công chúng theo quy định tại Luật Chứng khoán (hiệu lực từ 1-1-2007). Việc chào bán đó đã tuân theo quy định pháp luật về cổ phần hóa DNNN, tức Nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, Nghị định 108 /2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư; Nghị định số 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh Nghiệp.
Ngoài ra, tại thời điểm Công ty thực hiện cổ phần hóa năm 2005, Luật Chứng khoán chưa được ban hành và pháp luật cũng chưa có bất kỳ quy định nào về chào bán cổ phiếu ra công chúng hay công ty đại chúng. Bởi vậy, không đủ căn cứ để cho rằng doanh nghiệp Nhà nước bán đấu giá cổ phần khi thực hiện cổ phần hóa là chào bán cổ phần ra công chúng theo quy định của Luật Chứng khoán và do đó công ty cổ phần hóa là công ty đại chúng.
Câu hỏi thứ hai, Việt kiều mua cổ phần của công ty trong nước (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa) có được coi là nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hay không?
Công ty được cổ phần hóa vào năm 2005. Tại thời điểm đó Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2004 về cổ phần hóa ("Nghị định 187") và Quyết định 36/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 11 tháng 3 năm 2003 ban hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam ("Quyết định 36"), đang được áp dụng. Theo quy định tại Nghị định 187 và Quyết định 36, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm các đối tương sau: các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; người nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo quy định tại Quyết định 36 nêu trên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm: người có quốc tịch Việt Nam; người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Thông tư 73/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 31 tháng 7 năm 2003 hướng dẫn Quyết định 36 quy định nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần phát hành lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa thì mức vốn của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ dự kiến trong phương án cổ phần hóa được duyệt.
Như vậy, theo quy định pháp luật tại thời điểm Công ty thực hiện cổ phần hóa (2005), khi mua cổ phần trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, những Việt Kiều (như ông Hoàng Kiều) cũng coi là nhà đầu tư nước ngoài và bị hạn chế ở tỷ lệ sở hữu không quá 30% vốn điều lệ của Công ty.
Song, sự hạn chế của luật pháp ở đây là Thông tư 73 cũng như Nghị định 187 và Quyết định 36 có hiệu lực vào thời điểm năm 2005 chỉ quy định mức giới hạn sở hữu tối đa 30% đối với nhà đầu tư nước ngoài mà không đưa ra mức hạn chế áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan của họ như vợ, chồng, con cái, cha mẹ, anh, chị, em trong trường hợp những người sau này không có quốc tịch nước ngoài. Như vậy vào thời điểm năm 2005, việc mua 30% cổ phần của ông Hoàng Kiều và 34% của vợ ông (là người mang quốc tịch Việt Nam) không đủ để coi là vi phạm quy định pháp luật hạn chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài không quá 30% trong một công ty cổ phần hóa.
Thứ ba, tỷ lệ sở hữu tối đa mà một nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ trong một công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng như DLTG là bao nhiêu vào thời điểm tháng 2 năm?
Vào thời điểm đó, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua không hạn chế về tỷ lệ sở hữu trong các doanh nghiệp Việt Nam trừ 4 trường hợp sau: mua cổ phần khi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa hoặc chuyển đổi (thực hiện theo quy định về cổ phần hóa và chuyển đổi); doanh nghiệp niêm yết (theo quy định về niêm yết); doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề chịu hạn chế về sở hữu nước ngoài theo Cam kết WTO (theo từng ngành nghề cam kết cụ thể tại Biểu cam kết WTO); và doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật chuyên ngành có quy định hạn chế về sở hữu nước ngoài ví dụ như chứng khoán, ngân hàng (theo quy định tại pháp luật chuyên ngành).
Song, DLTG không phải là công ty có cổ phiếu niêm yết/đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán, không thuộc trường hợp đặc thù (về ngành, nghề, lĩnh vực, không thuộc đối tượng Nhà nước nắm cổ phần chi phối...). Thậm chí, nếu DLTG có bị coi là công ty đại chúng (nhưng không phải là công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán) thì tại thời điểm này, nhà đầu tư nước ngoài vẫn có thể mua cổ phần không hạn chế tại Công ty ngoại trừ các trường hợp nêu tại mục 4.1 bên trên. Lý do là: đến ngày 1 tháng 6 năm 2009 (tức là sau đó 4 tháng), Nghị định 55/2009/NĐ của Chính phủ mới có hiệu lực pháp luật và quy định hạn chế 49% vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty đại chúng. Điều này không áp dụng cho CTCP Du lịch Tiền Giang vào thời điểm SCIC bán đấu giá cổ phần công khai trong đó ông Hoàng Kiều là người trúng đấu giá vào tháng 2 năm 2009.
Rõ ràng, tuy sự chưa đầy đủ và chặt chẽ của luật ở đây đã khiến các chuyên gia không dễ gì kế luận về việc bán DLTG đúng sai ra sao, nhưng không thể chần chừ thêm nữa việc đánh giá một cách toàn diện và đồng bộ khung pháp luật về đầu tư, chứng khoán và thị trường chứng khoán (trong đó có xét cả đến tính thứ bậc hiệu lực pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan theo quy định của Luật Ban hành văn bản pháp luật), các quy định về quản lý vốn nhà nước và cách xử lý tình huống trong các giai đoạn chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước.
Trong câu chuyện này, cũng rất cần thêm các động tác khác của cơ quan chức năng như rà soát lại quá trình tư vấn tổ chức bán đấu giá DLTG và trách nhiệm, nghĩa vụ của SCIC cũng như ABS; Phiên đấu giá công khai có thật sự công khai và công bằng? Việc 6/7 người tham gia đấu giá Công ty trên đã bỏ mức giá khởi điểm có phải điều tự nhiên?
Và lớn hơn, nếu có vấn đề bất thường trong trường hợp của DLTG cũng không thể vì một vài trường hợp mà ngăn trở quá trình cổ phần hoá và cải cách doanh nghiệp nhà nước, bởi như vậy chúng ta vô hình trung sẽ vì cải nhỏ mà bỏ cái lớn. Bên cạnh đó, chủ trương mời Việt kiều về nước cần được đẩy mạnh, không nên vì chuyện này mà phân biệt đối xử với Việt kiều nếu họ làm ăn chân chính, đóng góp cho đất nước.
Và cuối cùng, bài học thoái vốn công luôn luôn mới: cần thận trọng và thận trọng hơn khi bán đồng vốn của nhân dân.