Cựu Ngoại trưởng nói về chuyện học Bác trong ngoại giao

Về biết mình thì ta chưa thật hiểu mình, chưa thật tin mình, chưa hiểu quá khứ của mình mấy đâu. Không biết mình kĩ thì trả giá đắt lắm - Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhìn lại chuyện học Bác trong ngoại giao.

Cốt lõi tư tưởng Hồ Chí Minh là dân tộc

- Là người đã dày công nghiên cứu về ngoại giao Hồ Chí Minh, từng xuất bản sách về tư tưởng ngoại giao của Người, và cũng là người đã trải nghiệm thực tế nhiều năm trong ngoại giao, theo ông, tư tưởng căn cốt nhất của ngoại giao Hồ Chí Minh là gì?

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên: Cái xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề dân tộc, và lợi ích dân tộc luôn là hàng đầu. Cốt lõi của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh cũng là yêu nước, là dân tộc.

Điều làm Bác Hồ sung sướng nhất là lúc Bác đọc Luận cương các vấn đề dân tộc của Lênin; đang nằm, Người vùng dậy nói con đường cứu nước đây rồi.

Nguyện vọng tha thiết nhất của Bác là giải phóng dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh xuyên suốt là dân tộc, độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc và thống nhất cho đất nước.

Về lí luận, Cụ Hồ ít nói về Mác, Enghen, mà chủ yếu nói về dân tộc. Sau này khi so sánh, Cụ nói về Mác chủ yếu về phương pháp luận thôi. Cụ rất thích thú với chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn.

Đất nước Việt Nam ta bây giờ là "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc", chính là "Tam dân". Từ xưa đất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà Cụ Hồ sáng lập đến nước CHXHCN Việt Nam hiện nay vẫn là Tam dân, vẫn là tư tưởng dân tộc.

Đường lối đối ngoại của Bác là làm thế nào để dân tộc mình thoát được áp bức nô lệ. Bác suốt đời đấu tranh cho điều đó.

Bác Hồ tiếp Chủ tịch Trung Quôc Mao Trạch Đông. Ảnh Tư liệu

Trong cuộc đời ngoại giao, Bác Hồ chú trọng 4 chữ: Hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị và hợp tác.

Cụ Hồ là con người yêu hòa bình, muốn đất nước không bao giờ rơi vào chiến tranh, vì thế, Cụ luôn muốn tránh chiến tranh, bằng mọi cách. Khi Pháp ép, Cụ nhân nhượng với Hiệp định sơ bộ 6/3: Việt Nam nằm trong Liên hiệp Pháp, nhân nhượng các quyền lợi kinh tế cho Pháp. Người Pháp lúc đó quá tham lam và họ tin lực lượng của họ sẽ bóp chết cách mạng Việt Nam nên họ không chấp nhận. Đó là cái kém của người Pháp bấy giờ. Tầm nhìn của người Pháp quá ngắn. Người Pháp đã đô hộ Việt Nam gần trăm năm nhưng không hiểu Việt Nam. Khi ấy nếu chấp nhận những nhân nhượng của cụ Hồ, hợp tác với Việt Nam, thì họ được lợi lớn ở Việt Nam.

Bác Hồ không muốn chiến tranh, chỉ muốn hòa bình, và đã nhân nhượng Pháp. Sau này, đến Genève 1954, về Hà Nội rồi, Cụ rất muốn thực hiện Hiệp định Genève, tổng tuyển cử. Và tin chắc rằng, nếu tổng tuyển cử, Cụ sẽ giành thắng lợi, và Cụ vẫn dành chỗ đứng cho những người không đồng tình với mình, không ủng hộ chủ nghĩa mà mình theo miễn là họ yêu nước, vì dân tộc.

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ từng kể với tôi, lúc ông là thư kí cho con gái của Neru Grandi, trong chuyến đi của Thủ tướng Nerhu tới Hà Nội ngay sau khi mình tiếp quản Hà Nội 10, ngày 18/10/1954, Nehru đến gặp Hồ Chí Minh chỉ cốt nói một câu thôi: "Mong Cụ và Chính phủ Việt Nam thực hiện Hiệp định Genève".

Khi hai người ngồi với nhau ở khách sạn Sofitel Metropole, Cụ Hồ nói thẳng tiếng Anh với ông Nehru. Ông Nehru thở phào bảo: ông thật bất ngờ vì điều tôi định nói thì ông Hồ đã nói trước rồi.

Cụ Hồ và cả Việt Nam không muốn có chiến tranh. Khi Mỹ đem quân sang xâm lược, không còn lựa chọn nào khác, chúng ta phải đánh trả. Họ dồn mình vào thế buộc phải chiến đấu, không thể đầu hàng. Yêu hòa bình, thiết tha với hòa bình nhưng hoàn cảnh đẩy Cụ phải kêu gọi chiến đấu.

Đường lối ngoại giao hòa bình của Bác Hồ là xuyên suốt. Chúng ta phải nỗ lực để bảo vệ điều đó. Tất nhiên, chúng ta phải bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc, quyền lợi của nhân dân bằng mọi giá, nhưng đừng để đẩy đến chuyện tranh chấp bằng vũ trang.

"Ngũ tri"

Từ tư tưởng dân tộc đó đến nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh để đạt cho được mục tiêu phục vụ lợi ích dân tộc như thế nào, thưa ông?

Bác là tinh hoa của văn hóa Việt Nam. Cụ không bằng cấp, thế nhưng từ xưa, báo chí phương Tây vẫn viết về Bác là Tiến sĩ (Doctor) Hồ Chí Minh. Mãi đến năm 1958, Bác Hồ tới thăm Ấn Độ, trường ĐH của Ấn mới trao tặng bằng tiến sĩ danh dự cho Bác. Bác đùa: "Bây giờ Bác mới có bằng".

Cụ là con người uyên bác, con người văn hóa. Trong ngoại giao, nghệ thuật của Hồ Chí Minh tuyệt vời, không ai có thể bắt chước được, chỉ có thể học được phần nào thôi. Phong cách, xử lý của Cụ Hồ đặc biệt, khác với mọi người mà chỉ Hồ Chí Minh mới làm được.

Sau này, khi đến các Hội nghị ngoại giao lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, Bác thường dạy cán bộ ngoại giao: các chú phải biết ngũ tri: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến hóa.

Nghĩa là muốn đối thoại, mình phải biết mình thế nào, người đối thoại với mình thế nào, biết thời thế, bối cảnh thế nào, biết dừng chỗ nào. Không biết dừng, anh mà già quá thì có khi đàm phán bị đứt, còn dừng non quá, anh sẽ thiệt. Do đó, biết dừng là khó lắm.

Biết biến hóa là khi tình hình thay đổi cơ bản rồi mà anh vẫn theo đường mòn đó. Nguy cơ thì phải biết lẩn trốn đi. Thời thế trong tay anh, anh phải cướp lấy để giành thắng lợi.

Trong ngoại giao, đó là cả một nghệ thuật. Chỉ cần học được những gì Bác dạy thì đã rất tốt.

Lời Bác dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng năm 1946 trước khi sang Pháp: "dĩ bất biến, ứng vạn biến" cũng là nghệ thuật ngoại giao của Người. Vấn đề nguyên tắc: độc lập dân tộc thì không thay đổi, còn những điều khác có thể xoay chuyển linh hoạt được.

Làm đúng theo Hồ Chí Minh thì thắng

Từ các nguyên tắc ngoại giao: ngũ tri, và dĩ bất biến, ứng vạn biến của Bác để soi vào thực tế ngoại giao Việt Nam giai đoạn sau này, khi Bác đã ra đi, ông đánh giá có lúc nào chúng ta đã không làm được?

Về cơ bản, mình thực hiện được những điều Bác Hồ dạy. Sau này đàm phán với Mỹ, chúng ta biết tiến thoái, biết dừng, biết biến. Chúng ta biết mình, biết Mỹ, biết thời thế với phong trào chống chiến tranh.

Bác Hồ thăm Liên Xô năm 1955. Ảnh tư liệu.

Từ rất lâu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: cứ làm đúng theo Hồ Chí Minh thì chúng ta thắng, đi chệch thì ta khó.

Hơn nữa, mình phải học Hồ Chí Minh ở chỗ không cực đoan. Cụ Hồ không bao giờ cực đoan. Những vị lãnh đạo tiền bối trước đây có lúc cũng rất cứng, nhưng thời điểm ấy khác, bây giờ khác.

Trong tự nhiên, cây muốn sống được phải hút được nước, có ánh sáng mặt trời... Hài hòa mới tồn tại được. Cứng quá là dở.

Chúng ta phải biết cái phải chăng, cái hài hòa. Hài hòa nhưng phải nắm vững nguyên tắc. Dĩ bất biến, ứng vạn biến là thế.

Cái bất biến: độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, làm sao chúng ta chia sẻ được? Cái bất biến là Đảng lãnh đạo, chúng ta làm sao chia sẻ được? Chúng ta phải giữ!

Không biết mình kĩ sẽ trả giá đắt

Ngoại giao Việt Nam ngày nay đã nắm được ngũ tri chưa, thưa ông?

Trước hết, về biết mình, thì Việt Nam mình cũng chưa biết mình đâu. Mình chưa thật hiểu mình, mình cũng chưa thật tin mình.

Chưa thật hiểu mình ở chỗ dân tộc mình như thế nào, các vấn đề của mình ra sao, mình không dám mạnh dạn. Trước đây chúng ta nói "nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật" thì bây giờ chúng ta chưa có đủ can đảm để làm điều này. Biết nguyện vọng của dân mình bây giờ ra sao, suy nghĩ của thế hệ trẻ thế nào...

Thế hệ trẻ chưa hẳn đã được thế hệ lãnh đạo tin đâu, vẫn nghi ngại, dè dặt, thận trọng.

Không biết mình kĩ thì mình phải trả giá đắt lắm, nhất là trong hội nhập. Mình biết lực mình đến đâu, tri thức của mình đến đâu, khả năng, tiềm năng của mình đến đâu, tính cho thật kĩ, thì khi vào cuộc chơi chung không lúng túng vì biết rõ yếu mạnh của mình. Đáng tiếc, hiện nay mình chưa thật hiểu mình.

Vả lại, chúng ta còn đang bị luẩn quẩn trong ý thức hệ, chưa ứng dụng được vào thời điểm phù hợp. Làm sao để giữ được lý tưởng nhưng vẫn phát triển đi lên được. Đừng để ý thức hệ như một chiếc vòng kim cô kìm lại, không cho anh biết, anh làm.

Nếu mình biết mình, biết Đảng mình, dân mình, củng cố lực lượng, thấy chỗ nào yếu thì củng cố, chỗ nào mạnh thì phát huy, thì sẽ có được những bước đi mạnh bạo để phát triển nhanh hơn.

Về biết người thì phải nói bây giờ ta chưa hiểu người lắm. Đó là cái yếu của Việt Nam: thiếu đầu tư cho trí tuệ. Ví dụ, trong ngành ngoại giao, nghiên cứu về các nước lớn rất mỏng, thậm chí, Trung Quốc là nước Việt Nam chịu ảnh hưởng rất sâu với 1000 năm Bắc thuộc nhưng ta hiểu về Trung Quốc một cách hệ thống, khoa học, hiểu như người Pháp, người Nga, người Mỹ hiểu Trung Quốc thì không. Chúng ta chưa đầu tư về trí tuệ.

Ta với Mỹ thì ta cũng chưa biết họ nhiều.

Ngay chuyện vào WTO rồi, nhưng luật chơi của nó như thế nào, phức tạp, lắt léo, ra sao, mình chưa hiểu hết. Mình phải có các viện nghiên cứu, các nhà trí thức chuyên sâu cho việc này. Và Nhà nước phải giúp họ, tạo điều kiện, đầu tư cho họ chuyên tâm làm. Đừng bắt họ làm việc khác mất thì giờ, mà tập trung vào chuyên môn.

Biết thời thế thì mình cũng biết tương đối, hiểu được bối cảnh, tình hình hiện nay, biết phân tích tình hình ở đâu như thế nào, có thể dự báo được. Có thể chưa thật chuẩn nhưng về đường hướng chung thì cũng không đến nỗi mù tịt.

Còn biết dừng thì ta còn yếu. Bây giờ Việt Nam là một nước đang phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, dễ bị hố lắm. Các nước họ đầu tư, vào làm với ta cũng nhiều chuyện lắm. Chúng ta phải biết được ở chỗ nào phải làm thế nào, ra điều kiện gì với đối tác, để có điểm dừng theo lợi ích của mình. Cái này ta chưa làm được.

Về biết biến hóa, Việt Nam phải tranh thủ thời cơ. Bây giờ, trong ASEAN, Việt Nam là nước hòa bình, ổn định chính trị nhất trong khi các nước đang gặp nhiều vấn đề. Thời cơ này Việt Nam phải bứt lên, giống như Thái Lan trước đây. Tính biến hóa về thời cơ, ta phải chớp lấy.

Chưa hiểu quá khứ của mình mấy đâu

Tại sao mình lại chưa thật hiểu, thật tin mình?

Muốn hiểu mình thì phải hiểu quá khứ. Thế hệ trẻ bây giờ phải học lịch sử để hiểu quá khứ, từ đó mới hiểu được hiện tại.

Làm đối ngoại, nội lực chính là cái hiểu mình, phải hiểu quá khứ, lịch sử dân tộc mình đấu tranh, tồn tại như thế nào... các giai đoạn phát triển của dân tộc mình.

Bây giờ mình không hiểu quá khứ của mình mấy đâu, đôi khi lại còn hiểu sai lệch đi, như đánh giá nhà Nguyễn là mình quá đáng. Thời đại nào cũng có sai lầm, nhưng không có sự mở rộng biên cương của nhà Nguyễn, làm sao có thể có Việt Nam ngày nay. Thế mà tên đường phố Việt Nam không hề có Gia Long, Minh Mạng...

Lịch sử vốn công bằng, ta không làm bây giờ thì sau này thế hệ con cháu cũng sẽ đánh giá lại. Nhưng muốn biết mình thì phải hiểu thấu đáo lịch sử dân tộc, hiểu thấu đáo truyền thống đấu tranh của dân tộc, sự hình thành dân tộc, tâm lý, cái yếu của người Việt.

Cái yếu của người Việt là tính sáng tạo. Giỏi bắt chước và làm theo thôi. Sáng tạo ít lắm. Không sáng tạo, suốt đời mình chỉ là kẻ làm thuê mà thôi.

Mình phải hiểu cái yếu của mình, để từ đó biết cách mình đi.

Nhưng đôi khi cũng phải học người Nhật, nghiến răng để học và đi lên. Phải học tập kinh nghiệm của các quốc gia khác thì mình mới lớn được. Còn không sẽ đì đẹt, chứ nói gì đến những điều cao siêu mà người ta nói. Bác Hồ nói: thực lực như cái chuông, ngoại giao như tiếng chuông. Cái chuông có to thì tiếng mới vang xa được.

Bây giờ mình hội hè nhiều quá. Tất nhiên phải huy động khí thế của dân tộc lên, nhưng tốn kém quá dành đầu tư những việc có ích hơn. Thời điểm này chưa phải là lúc mình xả láng được. Nhiều chuyện phải lo, nhiều việc phải làm lắm.

Thiếu dũng khí, không thể làm ngoại giao được!

Với ngành ngoại giao, theo ông, học Bác là học những gì?

Học ba cái: Trước hết là chữ Nhân (tức nhân dân), phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Là cán bộ ngoại giao, anh không có lợi ích gì hơn là phục vụ đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam.

Hai là, chữ Trí (trí tuệ). Đi đấu tranh ngoại giao mà không có trí tuệ thì làm sao đối thoại được với người ta. Mình phải biết mình, biết họ thế nào thì mới chơi được.

Ba là phải có Dũng. Ví dụ ở Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, hồi vấn đề Campuchia, họ nói mình nhiều, mình phải bảo vệ lợi ích của mình, phải có dũng khí để đứng ra bảo vệ. Phải nhanh nhạy chớp thời cơ vài giây ấy để bấm nút phát biểu cho thế giới hiểu. Nhút nhát vào lúc ấy là hỏng chuyện.

Bác Hồ luôn chú trọng chữ Nhân. Ngoại giao tâm công là thế. Ngoại giao cũng cần cái trí, vì không có trí thì không làm được gì. Ngay bây giờ, đất nước mình không có trí tuệ thì cũng chỉ đi làm thuê suốt đời cho kẻ khác. Cũng phải có dũng khí. Thiếu dũng khí, không thể làm ngoại giao được.

Đó là những điều cán bộ ngoại giao Việt Nam phải học.

- Theo ông, ngoại giao Việt Nam đã học Bác được đến đâu??

Học Bác là học suốt đời, không phải một ngày là được. Mỗi ngày phải điểm lại điều gì được và chưa được. Nói tôi đã học được Bác rồi thì không có. Ngày hôm sau phải hơn ngày hôm nay.

(còn nữa)

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu