Tự do mậu dịch với Trung Quốc: Làm sao để cùng thắng?

Nếu có một nét son nào chấm phá mối quan hệ Trung Quốc với các nước ASEAN trong thập niên vừa qua, thì chắc hẳn đó là sự mở rộng thương mại từ góc độ song phương giữa các quốc gia, đến đa phương thể hiện qua quá trình hình thành các khu vực vùng về tự do mậu dịch.

Trong khi trao đổi hàng hóa tính trên số lượng xuất nhập khẩu giữa Trung Quốc và các nước ASEAN những năm gần đây tăng vọt, thì ở bình diện khu vực, với việc hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA, ASEAN China Free Trade Agreement), một "định chế" thương mại giữa hai bên đang dần trở thành hiện thực.

Định chế này mang hai ý nghĩa. Trên hết, nó tự ghi dấu ấn vào lịch sử thương mại toàn cầu bởi những con số định lượng: Đây là vùng tự do thương mại lớn nhất toàn cầu dựa trên dân số các nước thành viên (1,9 tỉ người), vượt qua NAFTA (North American Free Trade Agreement) và đứng thứ ba về sản lượng trao đổi chỉ sau thị trường chung châu  Âu và Bắc Mỹ.

Các nhà quan sát còn bổ sung rằng, ACFTA cần được chú ý đặc biệt, vì trong nó đang lưu chuyển một xung lực mạnh mẽ của kinh tế thế giới với Trung Quốc, cùng các con rồng, con hổ mới nổi trong vùng Á châu.

Xét về mặt địa chính trị, ý nghĩa thứ hai vượt qua những con số. Một nhà quan sát nhận định, ACFTA hơn là một kế hoạch tự do thương mại. Trên căn bản, đó là một dự án "chính trị" của người "khổng lồ" Trung Quốc nhằm thiết chế hóa một môi trường khu vực ổn định, đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước mình.

"Trỗi dậy hòa bình" (peaceful development) hay "một thế giới hài hòa" (harmonic world), những thuật ngữ đang trở thành đầu lưỡi trong các bài diễn văn của lãnh đạo đất nước Tử Cấm Thành, được viện dẫn giải thích những bước đi nhũn nhặn trong chính sách ngoại giao khu vực. Cuộc tranh luận càng trở nên thú vị hơn với quan điểm cho rằng: quyền lực "sản xuất" toàn cầu đang chuyển đổi. Với Trung Quốc, một ngôi sao đang lên, đồng nghĩa rằng đây sẽ là đầu máy tăng trưởng và thịnh vượng của nền kinh tế toàn cầu. Ít nhất là trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Gắn kết vào nền kinh tế dân số 1,3 tỉ dân này là xu thế tất yếu, để tận dụng nguồn tài nguyên, giá thành nhân công, thị trường nội địa khổng lồ và xung lực tăng trưởng đang dồi dào như dòng Trường Giang cuồn cuộn. Trung tâm châu Á hay đầu máy khu vực? Có lập luận nào gây nghi ngờ và tranh cãi hơn?

Trong khung cảnh các nước ASEAN, từ giới hoạch định chính sách quốc gia đến các học giả, nhà báo, tri thức các ý kiến xoay tròn theo câu hỏi: Làm ăn xả láng với Trung Quốc, lợi gì, hại gì? Tựu trung, có thể nêu ra ba nhận định đáng chú ý.

Thứ nhất, hầu như không nước ASEAN nào không ý thức việc gắn kết với kinh tế Hoa lục là một cơ hội phát triển. Trường phái này áp đảo, vì cái lý giải đơn giản của ông bà ta xưa "cơm áo gạo tiền" hay "đồng tiền đi liền khúc ruột". Hợp tác làm ăn, đôi bên cùng lợi. Huống chi anh bạn mình còn là đối tác đầy tiềm năng, cứ tăng không giảm.

Tính thử trong vòng 10 năm, thương mại ASEAN - Trung Quốc tăng gấp 6,8 lần (từ 25 tỉ USD năm 1997 lên 171 tỉ USD năm 2007). Trong khi đó, cùng một khoảng thời gian, ngoại thương với các đối tác chiến lược khác chỉ giới hạn ở mức độ tăng trưởng nhất định (thí dụ như Hoa Kỳ tăng 1,4%).

Đồ chơi Trung Quốc tại chợ Bình Tây, TP. Hồ Chí Minh. Ảnh Trần Tiến Dũng.

Hòa nhịp, giới chiến lược bổ sung thêm nhu cầu chơi với Trung Quốc để tăng "đảm bảo về an ninh", vì lợi ích về thương mại, đầu tư sẽ là ràng buộc vô hình cho những quyết định phiêu lưu về quân sự. Chẳng ai muốn tự nhiên muốn đá đổ nồi cơm của mình.

Ý thức lợi ích đi liền với nhu cầu liên kết về kinh tế đưa mối quan hệ lên thành những định chế mang tính ràng buộc nhau về pháp lý. Đây là xu thế khu vực hóa thời thượng trong các bàn tròn hợp tác phát triển vùng.

Nhưng làm ăn với Trung Quốc không phải chỉ nhìn vào cái được. Tiềm năng hồ hởi, cơ hội tràn trề là mặt dương. Mặt âm là sự tương đồng của nền kinh tế, dẫn đến cạnh tranh về sản phẩm. Định hình về chiến lược phát triển của các nước ASEAN bất lợi vì thua ông khổng lồ phương Bắc về lợi thế "ồ ạt" (economies of scale). Cùng cung cấp một sản phẩm, nhưng do mức độ sản xuất ít hơn, nên giá thành sản phẩm cao hơn, mức độ cạnh tranh kém hơn.

Chưa kể, khác với Nhật Bản, đất nước đã phát triển với trình độ sản xuất cao và gắn kết hợp tác với ASEAN thông qua các chuỗi giá trị sản xuất mang tính bổ sung từ thấp đến cao, kinh tế Trung Quốc bao hàm hỗn hợp nhiều yếu tố khác biệt nhau cùng một lúc. Đó là nguyên nhân tại sao trong vòng đàm phán tự do thương mại thế giới Doha vừa qua, các nhà quan sát bối rối không biết xếp Trung Quốc vào đại diện nhóm nước nào.

Là nước phát triển tính về sản lượng sản xuất, mức độ phát triển ở các thành thị. Nhưng cũng là một nước chậm tiến tính về tỷ trọng của nền kinh tế trên nông nghiệp, và sự tụt hậu ở các vùng ngoại vi. Ấy thế mà chuỗi sản xuất của Trung Quốc cần hợp tác với các nước ASEAN ở nhiều điểm vừa cao, vừa thấp, không bao giờ thuần túy là bổ sung mà còn là cạnh tranh, đối đầu, thậm chí đấu nhau kịch liệt. Kết quả cho đến nay, có lẽ đối với các nước ASEAN, phần tối nhiều hơn sáng, với thâm hụt mậu dịch ngày càng tăng trong mối quan hệ thương mại với anh bạn phương Bắc láng giềng. Lợi ích bị đe dọa, thì cần đối sách phản ứng. Đó chính là nhận xét thứ ba.

Ở điểm này các nước ASEAN chia rẽ, vì mức độ phụ thuộc với Trung Quốc, định vị chiến lược vùng, cũng như trình độ phát triển tự thân của mỗi thành viên.

Đối với Việt Nam chúng ta, thương mại với Trung Quốc trước hết mang lại nhiều lợi điểm, vì sự tương đồng về tập quán, thói quen tiêu dùng, trình độ sản xuất, giá thành, cũng như mối quan hệ giao hảo về kinh tế giữa hai nước trong thời gian qua.

Mặt khác, nước ta cũng là một thí dụ điển hình cho hầu hết các quan ngại về mặt âm trong thương mại với Trung Quốc. Hai dẫn chứng thường được báo giới đưa ra là cấu trúc thương mại Việt-Trung với cán cân thâm hụt mậu dịch càng nghiêng về nước ta trong những năm qua, cùng với tính chất "Bắc-Nam" trong quan hệ ngoại thương, khi giao dịch hàng hóa thể hiện qua mô thức trao đổi tài nguyên, nguyên liệu thô lấy máy móc và sản phẩm đã qua tái chế.

Theo một tính toán, hiện nay 60% xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc là nông sản hoặc sản phẩm thô. Thêm nữa, tương đồng với một số nước chia sẻ cùng một đường biên giới (như Myanmar, Thái Lan, Lào), mậu dịch qua đường biên giới cũng là một đề tài nóng trong quan hệ ngoại thương hai nước.

Thông số của hai tác giả thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam cho thấy, mậu biên đã góp phần vào phát triển kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng GDP của các tỉnh biên giới giáp ranh. Nhưng ngược lại, đây cũng là một kênh khác để hàng hóa Trung Quốc chính thức hoặc bán chính thức thâm nhập vào thị trường nội địa Việt Nam, làm tăng gánh nặng trong cán cân mậu dịch và gây sức ép lên các nhà sản xuất "made in Vietnam" đang nỗ lực khẳng định sản phẩm của mình.

Như vậy, viễn cảnh ACFTA khi hình thành, dẫu cho những hứa hẹn tích cực trong tương lai dài hạn, chắc chắn sẽ là một gánh nặng trong điều kiện cơ chế ngoại thương hiện nay (hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc - ASEAN bắt đầu có hiệu lực từ năm 2010 cho ASEAN 6. Riêng các nước kém phát triển hơn trong khu vực bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar, thì hiệp định sẽ có hiệu lực từ năm 2015). Với việc đến năm 2015, các doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị chấp nhận cạnh tranh với 90% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc có thuế suất 0% đến 0,5%, rõ ràng sẽ là một cuộc đọ sức đầy cam go. Trong khi không dễ dàng thâm nhập thị trường Trung Quốc, thì sức ép hàng rẻ từ Hoa lục, một mặt sẽ tạo ra cạnh tranh khốc liệt trong những ngành nghề lao động chất lượng thấp.

Mặt khác, do trình độ phát triển còn chênh lệch, sự lấn áp của các ngành công nghiệp đã phát triển của Trung Quốc đối với những ngành công nghiệp non trẻ mà Nhà nước đang tập trung nuôi dưỡng là một xu thế có thể dự báo trước.

Một nước trong ASEAN 6 như Indonesia, mà đầu 2010 đã phải cảnh báo về nguy cơ thua thiệt của doanh nghiệp nước mình, và lớn tiếng đòi thương thuyết lại một số điểm trong hiệp ước tăng thêm thời gian cho một số mặt hàng dệt may và giày dép. Nếu ảnh hưởng lợi ích xảy ra, Việt Nam khó có thể hành xử như Indonesia bởi những xuất phát điểm khác nhau trong quan hệ chiến lược với Trung Quốc.

Vả lại, một chính sách "xét lại" cũng sẽ chỉ mang tiếng vang truyền thông, khó có những tác động thực tế cụ thể.

Việc Nhà nước kêu gọi và khuyến khích người Việt Nam mua hàng Việt Nam trong thời gian vừa qua có thể xem như một đối sách ngắn hạn. Một mặt vừa hỗ trợ tinh thần và vật chất cho các doanh nghiệp nội địa, mặt khác nâng cao ý thức người tiêu dùng về hiểm nguy "thua trên sân nhà" của các doanh nghiệp Việt Nam.

Trung hạn, sách lược đối trọng ngoại thương bằng cách xây dựng những "đầu máy" giao thương với các bạn hàng chiến lược khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay EU là một bước đi cần được tiếp tục thảo luận. Mức độ đa dạng về cấu trúc ngoại thương đảm bảo một khung hành động về chính sách rộng và ít ràng buộc.

Ngoài ra, một chuyển dịch kinh tế để cân bằng hàng ngang trong thương mại Việt-Trung đang là nhu cầu cần thiết. Chuỗi giá trị bán vật liệu thô, nhập máy móc sản phẩm qua sản xuất phản ánh tầng phát triển giai đoạn thấp của những nước chập chững trên con đường "công nghiệp - hiện đại hóa". Trong dài hạn, câu hỏi đặt ra phải làm sao hoàn thiện và nâng cao chuỗi giá trị của mình, cải thiện mức độ sản xuất, từ đó rút ngắn khoảng cách "Bắc-Nam" với các nước phát triển trên tầm cao hơn.

Cuối năm Kỷ Sửu, trong một bài viết, tác giả Trần Văn Thọ đã kêu gọi cần xác định tinh thần Nguyễn Trãi trong quan hệ kinh tế Việt-Trung (Tuần Việt Nam, 6/1/2010). Chào ngày đầu Canh Dần, xin mạn phép bổ sung thêm tầm nhìn Nguyễn Trường Tộ qua tinh thần cải cách "học người, sửa mình" trong cuộc chơi mậu dịch tự do vừa hợp tác, vừa chạy đua với người khổng lồ Trung Quốc: Nhìn (nhiều) người, sửa mình, để mạnh, để cạnh tranh và cùng thắng!

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu