Thực tiễn là trường huấn luyện lý tưởng
VinaCapital là tập đoàn quản lý tài sản, quản lý đầu tư lớn nhất tại Việt Nam với vốn đầu tư khoảng 1,8 tỉ USD. Don Lam, Tổng Giám đốc tập đoàn, là một diễn giả khá quen thuộc tại nhiều hội thảo về đầu tư, được tạp chí Fortune xướng danh là “Mr. Wall Street” (tên con phố tài chính ở New York, Mỹ) của Việt Nam. Là một cầu nối tin cậy đối với nhiều nhà đầu tư nước ngoài, nhưng người đàn ông 41 tuổi này tự trào rằng kỹ năng mình thành thục nhất sau 15 năm làm việc tại quê hương là “đi xin tiền”.
Sinh ra ở Nha Trang. Mười tuổi theo gia đình sang định cư ở Canada. Hai mươi sáu tuổi về Việt Nam, gây dựng văn phòng đại diện của Coopers & Lybrands (năm 1998 sáp nhập vào Pricewaterhouse thành Pricewaterhouse Coopers) trước khi trở thành đồng sáng lập VinaCapital với số vốn ban đầu chỉ 10 triệu USD cuối năm 2003. Tuy nhiên, cuộc trò chuyện giữa chúng tôi, diễn ra tại văn phòng của anh vào một buổi sáng cuối tuần, lại bắt đầu từ một thông tin đáng quan tâm. Anh nói:
Chúng tôi đã hết sức cố gắng và tích cực hỗ trợ Bộ Ngoại giao vận động hành lang Diễn đàn Kinh tế Thế giới và được tổ chức này chấp thuận tổ chức Diễn đàn Kinh tế Thế giới khu vực Đông Á với sự góp mặt của hàng ngàn nhà đầu tư quốc tế tại Việt Nam vào tháng 6/2010. Tôi tin rằng đây là một dịp tốt để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận và tìm kiếm đối tác hợp tác sau khủng hoảng. Để tận dụng được cơ hội này, những doanh nghiệp trong nước nên chuẩn bị thông tin cần thiết, sẵn sàng cung cấp cho những nhà đầu tư, kêu gọi sự quan tâm của họ. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư trong nước cũng cần tìm hiểu kỹ về lai lịch và hoạt động những nhà đầu tư sẽ tham gia diễn đàn bởi thời gian có hạn, số lượng nhà đầu tư thì đông và nếu không chủ động, chúng ta sẽ khó tìm được những người có khả năng hợp tác với mình.
![]() |
| Tranh Hoàng Tường (DNSGCT) |
- Việc FDI sụt giảm trong năm 2009 một phần là do nhiều quỹ đầu tư rút vốn hàng loạt từ năm 2008. Còn với VinaCapital thì sao?
Đúng là nửa sau năm 2008 là giai đoạn khó khăn nhất từ trước đến nay cho các quỹ đầu tư ở Việt Nam. Thị trường chứng khoán giảm hơn 60%, lạm phát cao. Lúc đó, tôi đi nước ngoài thường xuyên, ở trên trời nhiều hơn ở dưới đất, có khi cả tuần lễ mới về nhà thăm gia đình được một buổi. Tôi phải gặp gỡ từng nhà đầu tư, giải thích những khó khăn Việt Nam đang đối mặt chỉ là tạm thời, xảy ra trong ngắn hạn. Thay vì rút vốn, tôi còn thuyết phục được họ tăng vốn đầu tư vào thị trường này.
- Tại sao các cộng sự không "chia lửa" với anh?
Tôi phải trực tiếp làm vì mình là người nắm rõ nhất. Điều quan trọng nhất khi thuyết phục các nhà đầu tư là làm cho họ tin tưởng vào những gì mình tin tưởng. Chỉ một câu diễn đạt sai ý, hậu quả sẽ rất lớn, nhà đầu tư có thể quyết định không đầu tư tiếp, nhất là vào thời điểm đó, các nhà đầu tư đang bị chi phối bởi không khí hoảng loạn do khủng hoảng kinh tế. Tôi nói đùa với các anh em quen biết bên Bộ Kế hoạch - Đầu tư rằng đáng ra tôi phải được trả lương vì tích cực thu hút đầu tư như các anh ấy.
Là người điều hành, tôi chịu áp lực từ nhiều phía: từ nhà đầu tư, các quyết định đầu tư, tiến độ thực hiện các dự án... bởi chúng tôi chỉ là những người quản lý giùm tiền của các nhà đầu tư. Nhưng với tôi, mệt mỏi nhất là nghiên cứu những dự án mà bạn bè giới thiệu. Nhiều dự án không có tính khả thi, tôi buộc phải từ chối để bảo vệ các nhà đầu tư của mình. Ở nước ngoài, chuyện này rất bình thường nhưng ở Việt Nam, việc dự án không thể triển khai khiến bạn bè của tôi không vui và vì thế tôi cũng rất áy náy. Một phần có lẽ vì ở Việt Nam, tổng giám đốc thường được xem là người có tiếng nói quyết định. Với những tập đoàn như VinaCapital thì khác. Theo nguyên tắc, mỗi dự án chúng tôi thực hiện đều phải trải qua ba bước thẩm định. Bước thứ nhất là nhóm chuyên viên dự án cùng làm việc với tôi, tiếp đến là đánh giá của Hội đồng Đầu tư và cuối cùng là quyết định của Hội đồng Quản trị. Sau này, có thì giờ, nhất định tôi sẽ viết một chuyên đề về vấn đề này.
- Đã bao giờ anh mất bạn vì những chuyện đại loại như vậy?
Cũng có. Chỉ là khi người ta chưa thông hiểu lẫn nhau, nhưng cũng có thể điều này khiến cho tôi không có nhiều bạn ở Việt Nam.
- Anh có thể chơi với những người ngoài ngành với mình?
Cái này cũng khó nói. Có thể lúc này người đó chưa kinh doanh nhưng... ai biết được khi họ chuyển sang kinh doanh trong tương lai gần hay có những người bạn của họ đang kinh doanh, việc gì sẽ xảy ra?
- Công việc căng thẳng như vậy, anh làm thế nào để tìm lại sự cân bằng cho mình?
Tạm gác công việc sang một bên, về nhà chơi với các con của tôi là cách tốt nhất và duy nhất giúp đầu óc mình thư thái.
- Một mẫu đàn ông của công việc và gia đình...
Sở dĩ tôi hiếm khi la cà, bù khú là vì vừa không biết nhậu, vừa không có nhiều thì giờ. Thứ Bảy, Chủ nhật tôi vẫn làm việc bình thường. Thậm chí, hai ngày cuối tuần lại là khoảng thời gian tôi làm việc hiệu quả nhất. Bởi đó là lúc các đối tác của tôi thoải mái và tập trung nhất do bớt bị chi phối bởi công việc thường ngày. Suy cho cùng, đã bước vào ngành tài chính là phải chấp nhận áp lực, không thể khác được. Thêm nữa, tôi nghĩ, giai đoạn khó khăn nhất, mình đã vượt qua được.
- Anh có thể nói rõ hơn?
Năm 1994, tôi được ban lãnh đạo Coopers & Lybrands giao nhiệm vụ về Việt Nam thành lập văn phòng đại diện. Đó là giai đoạn vô cùng khó khăn. Việt Nam mới mở cửa thị trường, Hoa Kỳ vẫn chưa bỏ cấm vận..., khả năng diễn đạt tiếng Việt của tôi rất hạn chế do theo gia đình qua Canada định cư từ nhỏ. Cho đến bây giờ, đó vẫn là giai đoạn khó khăn nhất mà tôi đã trải nghiệm.
- Những yếu tố bất lợi như vậy có thể làm chậm lại quá trình phát triển nghề nghiệp của anh?
Trong một chừng mực nào đó, môi trường khó khăn lại làm con người nhanh chóng trưởng thành. Công ty của tôi đưa ra hai tiêu chí để điều động nhân viên qua Việt Nam làm việc, một là có bằng kiểm toán quốc tế và hai là người gốc Việt. Nếu tôi nhớ không lầm thì trong công ty của tôi lúc đó cũng có vài ba người gốc Việt, nhưng chỉ riêng tôi đáp ứng được tiêu chuẩn thứ nhất. Tuy nhiên, cha mẹ tôi phản đối, cũng khá gay gắt, chuyện tôi về Việt Nam làm việc. Thuyết phục mãi hai cụ mới đồng ý cho tôi về làm việc một năm. Hồi đó mình mới 26 tuổi, còn trẻ, nên sung sức lắm.
- Bây giờ còn sung không?
Vẫn vậy. Vả lại, như đã nói, giai đoạn khó khăn nhất với tôi đã qua rồi. Nếu hồi đó ở tuổi này, có lẽ tôi không dám về. Ngoài công việc phải làm tại quê hương, trong thâm tâm tôi muốn làm một điều gì đó, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế nơi mình đã sinh ra mặc dù chưa biết mình sẽ làm gì. Tình cờ, tôi đọc một báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tính toán bình quân cứ một triệu USD đầu tư nước ngoài vào nước nghèo thì có thể tạo ra công ăn việc làm cho một ngàn người. Chi tiết đó đã gợi mở cho tôi hướng đi phù hợp với năng lực của mình, tức là kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài. Đương nhiên, việc này không dễ. Có khi 10 nhà đầu tư đến Việt Nam thì chỉ có một người quan tâm. Nhưng từ khi họ tỏ ra quan tâm đến lúc thực sự bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam là một quãng đường rất dài và lại là một vấn đề khác nữa. Thông thường, họ mất khoảng hai, ba năm nghiên cứu thị trường trước khi quyết định đầu tư.
- Theo báo cáo chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) vừa được công bố, PCI của TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội đều giảm. Theo anh, thực tế này sẽ tác động như thế nào đến quyết định của các nhà đầu tư?
Đây là một chỉ dấu quan trọng, nhưng không phải yếu tố quyết định. Cũng nên thông cảm với các cơ quan quản lý nhà nước, với các cấp chính quyền bởi quản lý, điều hành hoạt động của một đô thị phức tạp hơn nhiều so với việc điều hành một doanh nghiệp. Các nhà đầu tư lớn thường nhìn vào tầm trung và dài hạn. Như đã nói, tôi thuyết phục được các nhà đầu tư của mình tiếp tục tăng vốn một phần là bởi họ đặt niềm tin vào trung và dài hạn. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta bỏ qua ngắn hạn. Năm 2008 chúng ta bị khủng hoảng kinh tế và lạm phát. Năm 2009 là vấn đề tỷ giá. Hai năm này là khoảng thời gian thử thách lòng kiên nhẫn của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự kiên nhẫn nào cũng có giới hạn. Giới đầu tư quốc tế đang theo dõi rất sát sao những biến động kinh tế. Vậy nên, năm 2010 này có thể là một cơ hội lớn để chúng ta củng cố niềm tin của các nhà đầu tư, đặc biệt là vấn đề ổn định vĩ mô. Nhiều khả năng lạm phát có thể sẽ xảy ra sau Tết Nguyên đán do hàng hóa đang đồng loạt tăng giá. Điều khiến tôi lo ngại là chỉ số này sẽ biến động như thế nào, có nằm trong biên độ các nhà đầu tư chấp nhận được hay không. Câu trả lời phụ thuộc vào năng lực điều hành vĩ mô của Chính phủ và nhiều yếu tố khách quan khác như giá thế giới của một số mặt hàng chiến lược như dầu mỏ, vàng,...
- Trong gần mười năm đầu kể từ khi về Việt Nam, được biết anh đã rời Pricewaterhouse Coopers (PWC) Việt Nam qua Deutsche Bank gần một năm rồi quay trở lại. Việc anh rời vị trí phó tổng giám đốc PWC Việt Nam phụ trách tư vấn tài chính khu vực Đông Dương, trở thành đồng sáng lập VinaCapital, là sự chuẩn bị từ trước hay bởi nhìn thấy cơ hội chín muồi?
Một khách hàng được tôi tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp thành công đã rủ tôi ra ngoài thành lập công ty quản lý quỹ đầu tư. Đề nghị của anh ấy khiến tôi rất phân vân bởi công việc của mình lúc đó cũng đang thuận lợi. Tôi là người gốc Việt duy nhất thuộc nhóm quản lý cao cấp của công ty ở khu vực Đông Dương. Ngược lại, nếu về làm quản lý quỹ đầu tư, tôi không chỉ tham gia vào quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mà còn có thể trực tiếp sử dụng đồng vốn. Suy đi tính lại, tôi trả lời rằng mình sẽ về nếu anh ấy huy động trước được 10 triệu USD. Kết quả là Vietnam Opportunities Fund (VOF), quỹ đầu tư đầu tiên ra đời. Trong thời gian làm việc ở PWC và Deutsche Bank, tôi tham gia kiểm toán trực tiếp hàng chục công ty tại nhiều lĩnh vực, ngành nghề. Nhờ vậy, tôi học hỏi được khá nhiều từ hoạt động của những đơn vị này. Thực tiễn là trường huấn luyện lý tưởng. Nói chung, kiểm toán là ngành học cần thiết đối với các nhà đầu tư.
- Việc anh học ngành kế toán, rồi lấy bằng kiểm toán viên quốc tế, có thể hiểu là một bước đệm được tính toán trên con đường trở thành một giám đốc điều hành?
Thời đi học, tôi chưa nhìn xa được như vậy. Tôi chọn kế toán vì nó là một trong những ngành có cơ hội xin được việc làm. Đơn giản chỉ có vậy thôi.
Ông Don Lam và phu nhân Julie Lam tham gia buổi đấu giá từ thiện ngày 4/11/2009 cùng với
diễn viên điện ảnh Thành Long nhằm góp vào ngân quỹ khoảng 40.000 USD
hỗ trợ phẫu thuật các trẻ em bị sứt môi hở hàm ếch khắp Việt Nam. Ảnh: VNE
Cùng các doanh nhân trao đổi bên lề bữa tiệc. Ảnh: VNE
- Có những lời đồn đoán rằng phần lớn nguồn vốn của VinaCapital được rót từ Trung Quốc. Chuyện này thực hư ra sao?
Sai hoàn toàn. Hiện tại, 50% vốn của chúng tôi là từ châu Âu, 20% là Nhật Bản, 10% từ Mỹ và 20% còn lại từ Malaysia, Singapore, Hồng Kông. Tuy nhiên, phần vốn từ các nhà đầu tư tại Hồng Kông chủ yếu là từ các nhà đầu tư nước ngoài đang kinh doanh tại đặc khu kinh tế này. Tất cả các quỹ chúng tôi đang quản lý đều niêm yết trên Thị trường Chứng khoán London ngay từ ngày đầu thành lập. Tất cả luồng tiền vào - ra đều bị giám sát chặt chẽ. Bạn có thể truy cập vào trang web của Sở Giao dịch Chứng khoán London (LSE) là kiểm tra ngay được thôi.
- Thực tế cho thấy các quỹ đầu tư thường chiếm tỷ trọng khá lớn trong các giao dịch trên thị trường chứng khoán. Phải chăng đầu tư gián tiếp là hoạt động chủ yếu của các quỹ đầu tư?
Do không có đủ thông tin về hoạt động của các quỹ khác nên tôi không có ý kiến. Về phần mình, hoạt động kinh doanh của chúng tôi có hai mảng, một là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp trong nước. Về phần đầu tư gián tiếp, chỉ có quỹ VOF, với tổng vốn đầu tư gần 800 triệu USD, là đang tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán và vốn đầu tư cho hoạt động này chỉ chiếm chưa tới một phần ba tổng vốn đầu tư của VOF, phần còn lại của VOF dùng để đầu tư chung với các quỹ khác do VinaCapital quản lý. Về mặt đầu tư trực tiếp, tôi thiết nghĩ, một công ty nước ngoài bỏ 100% vốn xây dựng nhà máy sản xuất cung ứng cho thị trường trong nước là một hình thức đầu tư, nhưng thương hiệu là của họ. Cũng là đồng vốn nước ngoài, nhưng thay vì tự sản xuất, chúng tôi mua cổ phần của doanh nghiệp nội địa cần vốn thì cả hai bên cùng có lợi, vì chúng tôi vẫn tham gia đầu tư và bản thân doanh nghiệp có thể phát triển tốt hơn thương hiệu của họ, giữ nguyên bản thương hiệu Việt Nam.
- Giữa đầu tư trực tiếp và gián tiếp, mảng nào sinh lời nhiều hơn?
Đầu tư trực tiếp. Dự án đầu tiên của VinaCapital cũng là đầu tư trực tiếp vào Tập đoàn Kinh Đô. Chúng tôi đã cùng nhau đàm phán mua được kem Wall's với giá rất tốt. Theo thỏa thuận, trong năm năm đầu, Wall's không cạnh tranh với thương hiệu kem Kido's của chúng tôi tại thị trường Việt Nam. Sau ba tháng, chúng tôi có lời ngay. Sang tháng thứ tư, số vốn 10 triệu USD của VOF được đầu tư hết (vượt kế hoạch là cần ba năm để đầu tư hết khoản tiền này), và chúng tôi tiếp tục huy động thêm. Đến nay, sau sáu năm, số vốn điều lệ VinaCapital quản lý đã lên đến 1,8 tỉ USD.
- Danh mục đầu tư của Vinacapital khá đa dạng, sản xuất thực phẩm, y tế, giáo dục, địa ốc, tài chính... Vậy hướng đầu tư của quỹ trong năm 2010 sẽ như thế nào?
Đa dạng là đúng nhưng những ngành này có một điểm chung là đều gắn liền với sự phát triển của kinh tế Việt Nam. Chúng tôi cũng đang quan tâm đến ngành công nghệ thông tin. Rất may mắn cho tôi là mời được anh Thân Trọng Phúc, nguyên Giám đốc Intel Việt Nam, về đảm nhiệm vị trí giám đốc điều hành cho quỹ đầu tư công nghệ DFJ VinaCapital. Tôi biết anh Phúc đã lâu, thuyết phục nhiều lần, nhưng gần đây anh ấy mới đồng ý.
- Vì mức lương hậu hĩnh hay còn lý do nào khác nữa?
Với những người giỏi tầm cỡ như anh Phúc, tài chính không phải là vấn đề quan trọng nhất. Họ chịu hợp tác có thể vì cảm nhận được sự thành tâm của mình hoặc được tạo điều kiện tối đa để phát huy hết khả năng.
- Là một quỹ đầu tư nước ngoài nhưng phần lớn các vị trí điều hành cao cấp của VinaCapital đều là người Việt. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên?
Những người sáng lập đã thống nhất với nhau ngay từ đầu rằng lãnh đạo phải là người Việt. Người nước ngoài có kinh nghiệm về đầu tư, nhưng đó là vấn đề kỹ thuật, không khó. Khi một doanh nghiệp trong nước lựa chọn nhà đầu tư để huy động vốn, việc mình biết tiếng Việt, là một lợi thế quan trọng không chỉ trong quá trình đàm phán. Bởi sau khi hợp tác, làm việc với nhau hàng ngày phải thông qua một người phiên dịch thì cũng khó gần gũi. Chưa kể những tình huống khẩn cấp, nhấc điện thoại lên là có thể trao đổi trực tiếp với nhau.
Một nhiệm vụ quan trọng của tôi trong năm 2010 là tiếp tục huy động vốn từ các nhà đầu tư.
- Theo anh, đâu là tố chất quan trọng nhất đối với một người huy động vốn?
Sự trung thực.
- Làm thế nào để người đối thoại, nhất là những nhà đầu tư lần đầu tiên tiếp xúc, nhận ra sự trung thực của anh?
Phải tin vào điều mình nói.
- Ít ngày nữa là bước sang năm mới. Đầu năm cũng là thời điểm người Việt thường thể hiện ước nguyện của mình. Còn anh?
Theo quan sát của tôi, một số Việt kiều về nước làm ăn, đóng góp rất nhiều, nhưng họ chưa cảm thấy mình đang ở cùng một sân chơi với những doanh nhân trong nước. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, luật lệ nhưng việc thi hành ở đâu đó vẫn còn sự dè dặt, lấn cấn... Mong là việc này sẽ tốt hơn trong thời gian tới
- Thời gian không chờ đợi ai cả?
Lực lượng người Việt ở nước ngoài còn nhiều. Sẽ là vô cùng lãng phí nếu không tận dụng được nguồn lực này để phát triển đất nước.

