Đối tác bình đẳng Việt - Trung nhìn từ lịch sử

Đúng là: Trung Quốc là đối tác bình đẳng với Việt Nam trên mọi lĩnh vực, chứ không phải là thầy-bạn-đối thủ hay anh-em như nhiều người đã nghĩ. Tuy nhiên nếu xem lại tiến trình của quan hệ bang giao trong hàng ngàn năm lịch sử, có thể bổ sung thêm đôi điều.

Ôn cố....

Sau khi cùng quân dân đánh cho giặc Minh "ra đến biển còn hồn bay phách lạc, về đến nước vẫn tim đập chân run", Lê Lợi lên làm vua năm 1428, mở ra triều đại được đánh giá là thịnh trị bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Dù là bên thắng trận, nhưng vì muốn giữ hòa khí với nước lớn nên triều đình nhà Lê vẫn cử sứ thần sang "thiên triều" xin phong vương.

Nhà Minh năm lần bảy lượt thoái thác, yêu cầu tìm con cháu họ Trần để truyền ngôi. Mãi đến năm 1431, "thiên triều" mới đồng ý phong Lê Lợi làm Quyền thự An Nam Quốc Sự, hàng năm phải triều cống đều đặn.

Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, với ý chí "Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ" đã đánh tan hai mươi vạn quân Thanh vào mùa xuân năm 1789. Theo phương lược vạch sẵn, với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, nhà Tây Sơn nhanh chóng bình thường hóa bang giao với phương Bắc. Vua Thanh Càn Long đã cho sứ giả vào tận Phú Xuân để phong vương cho Nguyễn Huệ; rồi hoàng đế Quang Trung giả đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của Càn Long.

Tri tân...

Hai câu chuyện trên cho chúng ta nhiều bài học quý báu cho chúng ta hôm nay.

Thứ nhất, chúng ta không thể không bang giao với Trung Quốc, bởi dù có muốn tránh chúng ta cũng không thể chọn lại vị trí địa lý của nước mình. Đã là hàng xóm láng giềng thì không thể cứ mãi dùng tường cao hào sâu để tuyệt giao.

Vậy nên, mở rộng quan hệ toàn diện với Trung Quốc không phải là chủ trương hôm nay mới có, cũng không phải để phục vụ lợi ích cho nhóm người nào, mà đó là tất yếu của lịch sử́.

Thứ hai, khi bị xâm phạm lãnh thổ, chúng ta không thể không cầm vũ khí để chống đỡ, nhưng khi cuộc chiến đã qua đi thì cần phải dùng chính sách ngoại giao mềm dẻo. Không chỉ mềm dẻo, bậc tiền nhân dường như còn có phần nhún nhường, dẹp bỏ cái "oai" của kẻ thắng trận để chủ động làm hòa với Trung Quốc, chấp nhận là một nước "chư hầu" (dù chỉ trên danh nghĩa).

Điều đó chứng tỏ chúng ta không sợ cầm vũ khí, nhưng cầm vũ khí là lựa chọn cuối cùng khi đất nước lâm nguy. Cố gắng duy trì hòa bình với Trung Quốc là điều sáng suốt bởi tục ngữ có câu "Tránh voi chẳng xấu mặt nào".

Tuy nhiên, nhún nhường không phải là nhu nhược. Ta cũng cần xác định nhún nhường đến mức nào, trong lĩnh vực nào và vì mục đích gì bởi ranh giới giữa nhún nhường và nhu nhược cũng rất mỏng manh.

Với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền của đất nước, bất cứ sự nhún nhường nào cũng đều là trọng tội.

Thứ ba, quan trọng hơn cả: Dù quan hệ với nước lớn dưới danh nghĩa nào, vai trò nào chúng ta cũng cần độc lập trong điều hành đất nước.

Quang Trung đã lên ngôi hoàng đế từ năm 1788, đâu có đợi "thiên triều" phong vương? Lê Lợi được nhà Minh phong vương khi vào năm Thuận Thiên thứ 4 (1431), nghĩa là ông đã mặc nhiên trị vì đất nước, điều hành chính sự trước khi được nhà Minh thừa nhận.

Rõ ràng, điểm mấu chốt trong quan hệ với Trung Quốc là ở chỗ: phải luôn luôn độc lập tự chủ trong mọi việc.

Một chi tiết thú vị trong câu chuyện trên về Quang Trung: Cả khi đón nhận sắc phong của nhà Thanh lẫn khi phái sứ bộ sang Trung Quốc, ông đều sai người đóng giả. Phía nhà Thanh biết chuyện nhưng vẫn ngậm bồ hòn làm ngọt.  Hành động này biểu thị sự tự tôn của dân tộc Việt dù chịu sự ràng buộc lễ giáo phong kiến. Quang Trung làm vậy vì ông coi mình ngang hàng với vua Tàu nên không trực tiếp hạ mình nhận "ơn trên". Đây cũng chính là điều mà TS. Giáp Văn Dương tâm niệm "Trung Quốc là đối tác bình đẳng với Việt Nam".