Cận cảnh tướng trận thời bình

Khi tôi được 4 tuổi thì cuộc chiến tranh chấm dứt, khái niệm về chiến tranh trong tôi chỉ qua những trang lịch sử cách mạng Việt Nam, đặc biệt là những câu chuyện kể từ người cha Trần Việt Ngữ của tôi, một cựu binh Vệ quốc đoàn thời kháng chiến chống Pháp.

Qua sách học ở trường phổ thông, qua những tư liệu được tiếp xúc, tôi đã lưu giữ tên tuổi và chiến công của các vị tướng trận trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ như những huyền thoại sống, khâm phục và kính trọng.

Cho đến lần tôi được tòa báo cử tới nhà riêng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp ảnh, nhân kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, ý tưởng bật lên trong tôi, như một câu hỏi và cũng như một dự án quyết tâm thực hiện, về những vị tướng trận trong thời bình.

Tôi đã có những cuộc gặp gỡ, trò chuyện, chụp ảnh. Bước đầu là với 6 vị tướng mà tôi muốn chia sẻ với bạn đọc những câu chuyện của họ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Người anh cả QĐNDVN

40 phút cho cuộc gặp gỡ, chụp ảnh Đại tướng, với tôi là những khoảnh khắc vô cùng giá trị. Tôi đã từng đọc nhiều cuốn sách viết về ông. "Nếu không có tướng Giáp thì không thể có thắng lợi Điện Biên Phủ". Đó là nhận định của nhiều tướng lĩnh cao cấp Việt Nam và thế giới.

Các sử gia và dư luận phương Tây nể trọng Tướng Võ Nguyên Giáp vì ông là vị tướng "không tốt nghiệp một trường võ bị nào và không bắt đầu sự nghiệp quân sự bằng một chức vụ sĩ quan" đã đánh bại quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ (1954) và gây khó khăn cho quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam trong suốt thời kỳ 1964 - 1972, tức thời điểm quân đội Mỹ có mặt đông đảo nhất tại đây.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Ảnh: Việt Văn)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với bộ óc thiên tài quân sự của mình đã thắng trong cuộc đấu trí với Đại tướng lừng danh Henry Nava (Pháp) trong cuộc đánh chiếm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (1954).

Trong kháng chiến chống Mỹ, cùng với Bộ Chính trị, ông có nhiều đóng góp quyết định vào thắng lợi cuối cùng. Mệnh lệnh nổi tiếng nhất của ông chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4/1975 là "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, xốc tới, quyết chiến, quyết thắng, thống nhất đất nước".

Hình ảnh gây cho tôi xúc động trong buổi gặp gỡ đó, chính là lúc sau khi các đoàn khách tới thăm ông ra về, ông ngồi trầm tư, mắt nhìn xa xăm, dáng ngồi vẫn toát ra một uy lực để cho bất kỳ ai ở bên ông đều bị cuốn hút. Tôi bị hút ánh mắt của mình vào ông.

Cuộc đời thăng trầm của ông hình như càng làm cho cốt cách ông như một tấm gương để nhiều thế hệ trẻ soi mình.Thời kỳ nghỉ hưu, tuổi cao, Đại tướng vẫn đặc biệt quan tâm tới thời sự chính trị đất nước, đọc sách, thăm chiến trường xưa. Đại tướng cũng nhiều lần viết thư bày tỏ ý kiến quan điểm riêng của mình về nhiều vấn đề hệ trọng của đất nước.

Trung tướng Nguyễn Đức Soát: Huyền thoại sống của không quân Việt Nam

Trung tướng Nguyễn Đức Soát (Ảnh: Việt Văn)
Gặp ông không phải dễ, vì cho dù đã về hưu, nhưng ông vẫn tham gia một số hoạt động xã hội, cũng như các họat động tham mưu của binh chủng. Ông lại là người có nhiều khách tới thăm, nên để có những cuộc gặp gỡ, làm thành một câu chuyện cùng những bức ảnh chụp ông trong những phút riêng của một tướng trận thật khó.

Cảm giác lần đầu ra trận của ông?

- Cũng hồi hộp, vì mới ra trường (dù kỹ thuật lái đã nắm vững) nhưng chưa biết đối phương như thế nào? Song đã cất cánh là không còn cảm giác hồi hộp nữa, lo bám theo đội hình, quan sát địch và đánh theo phân công.

Những tố chất chính của phi công chiến đấu thưa ông?

- Nghề phi công phải có sức khỏe, ý chí quyết tâm làm bằng được. Phải quyết đoán, phản xạ nhanh và... liều một tý. Bám chắc đội hình, tính chính xác cự ly, thời gian và chủ động tấn công. Và lỳ, giữ cái đầu lạnh, tỉnh táo. Lúc tập luyện phải nghiêm túc, tập trung vì khi ra trận tình huống cũng không khác nhiều so với khi tập. Nắm vững quy luật của địch, như phi công Mỹ bay giỏi, vũ khí hiện đại, tối tân, trang bị tên lửa mạnh hơn nhưng rất bài bản, đôi khi thụ động. Có lần, chúng tôi vào gần, tiếp cận nhanh và bắn máy bay Mỹ khiến họ không kịp trở tay.

Ông luôn có quyển nhật ký mang theo người, ghi đều đặn từ năm 1965 - 1975. Đó là những cảm xúc cuộc sống, tình yêu, mỗi trận đánh. Trong đó có cả những vần thơ thật lãng mạn "Đường vào khu 4 hôm nay/Đẹp sao là những áng mây sắc hồng/Vui sao bát ngát tầng không/Bay vào tuyến lửa thoả lòng ước ao... (24/6/1969)

Bản thân ông có một mơ ước mãnh liệt: cùng một số thành viên thành lập một Câu lạc bộ Hàng không với 3 - 5 chiếc máy bay thể thao, có trung tâm huấn luyện bay dành cho những người thích bay.

Trung tướng, Phó Đô đốc Nguyễn Văn Tình: Anh hùng Đặc công Hải quân

Trung tướng Nguyễn Văn Tình (Ảnh: Việt Văn)
Ông có vẻ ngoài rất trầm tĩnh, kiểm soát tốt cảm xúc, gây cảm giác tin cậy cho người đối thoại. Trò chuyện với ông có nhiều thú vị, tôi lần đầu được gặp một "người thật, việc thật" đặc công thủy, trong sự cảm phục có cả sự thán phục và kính nể bởi những tình tiết ly kỳ mà có lẽ chỉ có những người đặc công thủy của QĐNDVN mới có thể làm được.

"Người đặc công nước phải có bản lĩnh vững vàng, ý chí quyết tâm cao. Trình độ kỹ thuật, chiến thuật điêu luyện. Sức khoẻ bền bỉ, dẻo dai. Linh hoạt sáng tạo tuỳ thuộc vào từng trận đánh, điều kiện cụ thể".

Nếu như người lính bộ binh có yểm trợ từ phía trước sau, bên phải, bên trái thì người lính đặc công nước trên là trời dưới là biển, chiến đấu trong điều kiện độc lập. Đặc công nước phải có sức khoẻ dẻo dai, lặn tốt, thở tốt, để có thể phải vượt qua địa hình hàng chục km trên biển, trên người mang theo mấy chục cân khí tài, mìn, trang bị...

Dưới nước, anh vừa là chiến đấu viên vừa là người chỉ huy, kể cả chỉ huy bản thân. Một tổ đặc công nước chỉ có 2 - 3 người, thậm chí 1 người, trinh sát, đánh tàu địch hoàn toàn vào ban đêm để đảm bảo bí mật, bất ngờ. Quả mìn buộc phao nhẹ để nổi hơi, làm sao đặc công nước vừa bơi, vừa kéo theo mìn giữ thăng bằng, không để chìm nhưng cũng không để mìn nổi lên mặt nước tránh địch phát hiện.

Tướng Tình kể cho tôi nghe những trận đánh tàu Mỹ với tất cả những gian khổ, nhọc nhằn của tổ đặc công nước. Với những trận đánh tàu lớn phải dùng thuỷ lôi (dài khoảng 2m, nặng 900 kg), phải chia nhỏ từng bánh, buộc vào từng người và xuất phát bơi ra biển vào đêm. Gần sáng, phải dừng lại cất giấu thuỷ lôi vào trong cát, tính sao cho thuỷ triều lên xuống địch cũng không phát hiện ra, mà sóng cũng không đánh trôi thuỷ lôi đi.

Đêm xuống lại bơi ra đào tìm những bánh thuỷ lôi đã chia nhỏ buộc vào người lại bơi tiếp... cứ thế mấy ngày đêm bơi hàng chục km mới tiếp cận được sát tàu địch. Đó là chưa kể phải thường xuyên đối phó với tàu tuần tiễu của địch, đèn pha, pháo sáng, các loại máy "thông minh" thu tiếng động, âm thanh để phát hiện thuỷ lôi...

"Tôi hay được chọn đánh những trận mở màn, với những đối phó mới của địch. Tổng tiến công Mậu Thân 1968 tôi và anh Mai Năng đang trên đường trở ra để báo cáo nhận tuyên dương Anh hùng thì lại được lệnh quay lại đánh tàu...."

Ông cũng không muốn kể nhiều về những chiến công của mình bởi lẽ bản tính ông không muốn khoe thành tích, cũng bởi có những bí mật về nghệ thuật chiến thuật quân sự không thể tiết lộ. Trung tướng, Phó Đô đốc Hải quân Nguyễn Văn Tình đã học quân sự ở Nga 4 năm, đã tham gia đào tạo nhiều lớp đặc công nước và giờ đây khi đã nghỉ hưu, trong mắt tôi, ông vẫn gây cảm giác là con người của hành động...

Trung tướng Phạm Xuân Thệ:  Nhân vật của ngày 30/4

Trung tướng Phạm Xuân Thệ (Ảnh: Việt Văn)
Trận đánh lớn của  đời ông là trận Thượng Đức, cứ điểm phía Tây thành phố Đà Nẵng, mà Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu gọi là “Mắt ngọc đầu rồng”. Ta thắng nhưng tổn thất khá nặng. Để rồi 35 năm sau- năm 2009 kỷ niệm 35 năm chiến thắng Thượng Đức, trở lại chiến trường xưa, vị tướng trận Phạm Xuân Thệ đã rưng rưng: Tôi về đây để tạ tội cùng anh em chiến sỹ. 

Trận đánh lịch sử trong cuộc đời binh nghiệp của ông chính là Chiến dịch Hồ Chí Minh. 11giờ  ngày 30/4/1975, Đại úy Phạm Xuân Thệ cùng các chiến sỹ  bước vào phòng họp chính của Dinh Độc Lập. Khi đó, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh nói “Chúng tôi đang đợi quân giải phóng đến để bàn giao”. Ông đã nói ngay và câu nói đó đi vào lịch sử: “Các ông không bàn giao gì hết, mà phải đầu hàng vô điều kiện”.

Tướng Thệ nhớ mãi câu nói của Nguyên soái Giu-cốp (Liên Xô- cũ) trong cuốn sách “Nhớ lại và suy nghĩ”: Ở chiến trường, người chỉ huy thêm một sợi tóc bạc thì ở hậu phương bớt đi một vành khăn tang.

Cảm xúc của ông lần đầu ra trận?

- Nửa hồi hộp, nửa lo lắng. Nhưng vào trận là quên hết lo âu, không nghĩ đến sống chết, phát hiện hỏa điểm là đánh. 

Khi ra trận là  một vị tướng, ông nghĩ  đến điều gì trước nhất?

- Đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất mà thương vong ít nhất. 

Bài học kinh nghiệm mà ông đúc kết qua chiến tranh?

- Là bài học xương máu. Phải biết chọn thời cơ  nổ súng và quyết  đóan trong trận đánh. Kinh nghiệm, quy luật và yếu tố linh cảm sẽ quyết định thời gian nổ súng... Điều quan trọng nhất với ông là Tình đồng đội. 

Tướng Thệ  ngoài đời rất cởi mở, chân thành. Ông không phải là người thích nói nhiều, chỉ khi gợi lại những ký ức oanh liệt, ông mới kể... Giờ đây, có thời gian rảnh, ông tìm đọc hồi ký các tướng lĩnh, thăm lại chiến trường xưa,  và trong tương lai, chắc ông cũng sẽ viết lại những kỷ niệm thời chiến.

Trung tướng Nguyễn  Ân: Một lòng một dạ theo cách mạng

Trung tướng Nguyễn Ân (Ảnh: Việt Văn)
Ông say sưa kể cho tôi về những trận đánh lớn mà ông may mắn tham gia. Là chiến dịch Mậu Thân 1968, sư đoàn 304 do ông chỉ huy đánh Khe Sanh - Tà Cơn, đối đầu một trung đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ gần 4.000 tên,chưa kể quân đội Sài Gòn, mà sau này địch phải ví là “ trận Điện Biên Phủ thứ hai”, phá tan âm mưu định cắt đường tiếp viện cho Trường Sơn của địch.

Là trận đánh Đường 9 Nam Lào còn goị là “Lam Sơn 719”. Rồi chiến dịch Quảng Trị năm 1972, trận đánh các cứ điểm ĐôngToàn, Ba Hồ, Đầu Mầu...đập tan hàng rào điện tử Mắc-Na-Ma-Ra. Tiếp đến là trận đánh Thượng Đức “cánh cửa thép phía Tây Đà Nẵng” mà quân số địch đông, hùng mạnh do tướng Ngô Quang Trưởng của quân đội Sài Gòn chỉ huy... 

“Trận đánh Thượng Đức đã giúp chúng tôi khẳng định: chủ lực ta hơn hẳn chủ lực địch và điều quan trọng hơn là Mỹ sẽ không quay trở lại Việt Nam nữa”.  Và  chiến dịch thứ 5 mà tướng Nguyễn Ân chỉ huy là giải phóng Huế tiến tới Đà Nẵng, để rồi kết thúc là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. 

“Tôi còn nhớ khi tiến quân vào giải phóng Sài Gòn, gặp người dân ở cửa ngõ, họ mừng lắm, gặp chúng tôi cứ ngạc nhiên sao quân giải phóng lại có người đẹp trai, to khỏe như thế. Họ nghe quân ngụy tuyên truyền là Việt Cộng gầy đen như quỷ đói, ăn lông ở lỗ khiếp lắm, bám cành đu đủ không gẫy!”.  Thời khắc giải phóng Sài Gòn là cảm xúc xốn xang đặc biệt khó tả với ông, “Tôi không nghĩ gì đến cá nhân cả, chỉ thấy vui mừng khôn xiết”. 

Đã có giây phút nào, ông cận kề với cái chết?

- Nhiều chứ. Trong đó tôi phải biết  ơn các bạn Liên Xô (cũ). Chính cái mũ  sắt của Liên Xô đã cứu tôi khi đạn bắn thẳng vào mũ, chiếc mũ  xoay tít lõm vào một vết lớn. Tiếc là  sau đó, chiếc mũ sắt đó bị thất lạc. 

Tướng Nguyễn Ân thời bình vẫn giữ được phong thái của một vị tướng đầy nhiệt huyết, luôn giữ được “lửa”  trong người, nhưng cũng rất tỉnh táo, nhìn cuộc đời đầy nhân ái, độ lượng.  Trong cuộc đời binh nghiệp, Trung tướng Nguyễn Ân có rất nhiều kỷ niệm, trong đó ông nhớ mãi phong cách sống giản dị gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ông có dịp chứng kiến.

Thiếu tướng Nguyễn  Đức Huy: “Người lạc quan”

Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy (Ảnh: Việt Văn)
Tướng Nguyễn Đức Huy lúc nào cũng lạc quan. Rất mạnh mẽ và luôn tươi cười, ông kể về những dấu mốc chính trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

Trận  đánh đầu tiên: năm 1953 đánh địch xung quanh thị  xã  Bắc Giang ở Mỏ Thổ, phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ. Khi đó ông là Đại đội trưởng Đại đội 85, tiểu đoàn 75, tỉnh đội Thái Nguyên.   

Ông có sợ chết không?

- Không hề. Ra trận  ác liệt như thế, nghĩ  đến cái chết là không đánh được. Nhiều lần tôi hút chết.

Sự  khác biệt giữa tinh thần chiến  đấu có phải là một nguyên nhân của chiến thắng, thưa ông?

- Đúng. Quân địch là lính đánh thuê vì lương vì tiền thưởng không thể dũng cảm bằng quân giải phóng chiến đấu vì độc lập tự do của đất nước. Tình cảm  trong chiến đấu của cán bộ và  chiến sỹ ta gắn bó khăng khít máu thịt. Chia nhau từng miếng cơm, khó thấy ở đâu có hình ảnh ngứời lính lao ra đẩy thủ trưởng vào hầm, che chắn đạn cho thủ trưởng như tôi từng chứng kiến. Tình đồng đội trong chiến tranh là cao cả nhất. 

Tướng Huy quan niệm:Trong chiến tranh phải biết chớp thời cơ, gạo thiếu thì vào dân vay, thiếu đạn lấy đạn địch mà bắn. Những trận đánh Quảng Trị 1972,  Thừa Thiên Huế 1975... là lúc ông phát huy tốt nhất khả năng cầm quân của mình. Trận đánh tiêu diệt tiểu đòan 6 Thủy quân Lục chiến tinh nhuệ của quân đội Sài Gòn ở Bắc sông Thạch Hãn, ông đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khen.

Sư  đoàn 325 của ông được mệnh danh là “Sư đoàn Gió lốc”. Trong cuốn sách mang tên “Valley Vets II - an oral history" của William L. Adam (Mỹ), trong phần phỏng vấn tướng Huy, tác giả đã dành từ “ lịch lãm” để nói về ông.

Ông đã làm gì cho những lính Mỹ bị chết khi ở chiến trường?

- Thông thường máy bay Mỹ  quần đảo khu vực chiến trường và  đẩy chúng tôi ra xa cho đến khi máy bay trực thăng đến và tự thu nhặt xác chết. Chúng tôi  đã mai táng lính Mỹ bất cứ  khi nào khi tìm thấy. Chúng tôi đã biết mai táng tất cả những gì có liên quan tới người lính và chôn họ ở những nơi dễ tìm nhất.

Ba lý do để đánh thắng quân đội Mỹ mà  tướng Huy nêu ra trong cuộc phỏng vấn là: Bộ đội Việt Nam không sợ hy sinh, đã chiến đấu vì trái tim vì tự do của Tổ quốc. Tiếp đến là sự am hiểu địa hình chiến đấu, biết lúc nào vây, lúc nào lấn.Quân Mỹ không chỉ đối phó với Quân giải phóng mà còn phải chiến đấu với cả dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên Tướng Huy nói ông muốn khép lại quá khứ để cùng nhìn về tương lai mà trước mắt là Chính phủ Hoa Kỳ xem có thể đóng góp gì cho nạn nhân của chất độc màu da cam của VN.

Ông kể một kỷ niệm trong chuyến đi châu Âu đầu năm 2009, qua Bỉ trên một chuyến taxi, khi người lái xe nghe ông nói là người Việt Nam đã kêu lên: Việt Nam - Võ Nguyên Giáp - Hồ Chí Minh.Khi đó, ông đã  xúc động trào nước mắt...

***

Câu chuyện của các vị tướng trận còn kéo dài, vì những hồi niệm chiến trận của họ có lẽ chưa bao giờ phai nhạt trong họ, nó vẫn như mới vừa xảy ra cho dù  chiến tranh đã qua đi gần 35 năm.Họ chính là những người cùng đồng đội của mình xây dựng QĐNDVN 55 năm qua với nhiều trưởng thành và chiến công làm nên lịch sử hào hùng của dân tộc.

Với tôi, họ là những huyền thọai sống đánh thức niềm tự hào dân tộc, không bao giờ chịu khuất phục bất kỳ thế lực ngọai bang hung bạo nào đe dọa đến cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do của Việt Nam.

(Bạn đọc gửi bài, ảnh cho chuyên mục tại: tuanvietnam@vietnamnet.vn)

>> Ba tôi - một nhà ngoại giao và tình báo

>> Anh Sáu Dân, người tôi yêu mến

>> NSND Nguyễn Đình Nghi - người thầy sân khấu suốt đời tôi

>> Chàng trai Pháp và trái cầu chinh

>> Giáo sư Lê Đình Kỵ: Ánh mặt trời cao quý

>> Danh họa Bùi Xuân Phái trong mắt con trai

>> Milan Kundera khiến tôi bật cười và hổ thẹn...

>> Ông hoàng của "Hoàng tử bé"

>> Chờ xe buýt với người thầy không danh hiệu

>> Bill Gates và những lời khuyên đáng giá từ cha

>> Những "bài thơ" của Chopin

>>
Danh họa Van Gogh trong "ống kính" của tôi

>> Tony Buzan: Truyền cảm hứng bằng "sơ đồ tư duy"

>> Nhớ Michael Jackson từ ký ức đường phố...

>> Đến lúc chết vẫn là "đứa trẻ chân thành"

>> Vua hề Sác-lô: Tiếng cười là nước mắt khô

>> Federer - người tin mình sẽ đi vào huyền thoại

 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu