Giải quyết tranh chấp Biển Đông trong mắt học giả Trung Quốc

Bài tham luận của GS Ji Guoxing của Đại học Jiaotong (Thượng Hải) tại Hội thảo Biển Đông vừa qua mặc nhiên thu hút được sự chú ý. Bởi, thông qua những gì ông Ji trình bày, người ta có thể thấy, ở chừng mức nhất định, cách tiếp cận vấn đề, và cùng với nó là sự mạnh yếu trong cơ sở lập luận, của cường quốc đang thể hiện sự gia tăng ảnh hưởng lên khu vực này. sự kiện nóng

Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của tác giả Huỳnh Phan như một tư liệu tham khảo.

Trong phát biểu khai mạc hội thảo quốc tế về Biển Đông, diễn ra tại Hà Nội từ ngày 26/11, Giám đốc Học viện Ngoại giao Dương Văn Quảng nhấn mạnh rằng những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ giữa nhiều bên liên quan không hề thuyên giảm ở Biển Đông, mà càng thêm phức tạp.

Chủ đề hội thảo nhấn mạnh tới xu hướng hợp tác vì an ninh và phát triển, sự "hợp tác" ở đây được hiểu trong cách tiếp cận vấn đề một cách khả thi trong giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ.

Quan điểm và cách tiếp cận của Trung Quốc, quốc gia hùng mạnh nhất cả về tiềm lực kinh tế, chính trị và hải quân và có yêu sách chủ quyền lớn nhất với 80 phần trăm diện tích trong 3,5 triệu cây số vuông của Biển Đông thông qua Đường Chữ U chín đoạn, được các học giả tham dự hội thảo, cũng như dư luận bên ngoài quan tâm nhiều nhất.

Bài tham luận của GS Ji Guoxing của Đại học Jiaotong (Thượng Hải), cũng mặc nhiên thu hút được sự chú ý. Bởi, thông qua những gì ông Ji trình bày, người ta có thể thấy, ở chừng mức nhất định, cách tiếp cận vấn đề, và cùng với nó là sự mạnh yếu trong cơ sở lập luận, của cường quốc đang thể hiện sự gia tăng ảnh hưởng lên khu vực này.

Mặc dù, vẫn có những người, như nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy, lại đưa ra giả thiết khác.

"Cũng có thể đây là cách tiếp cận mới của lãnh đạo Trung Quốc trước những diễn biến mới trong khu vực, theo chiều hướng các nước ASEAN tăng cường hợp tác với nhau và với bên ngoài. Nhưng, cũng có thể, họ được bật đèn xanh để phát biểu theo quan điểm riêng. Người Trung Quốc hư hư, thực thực lắm.

Nhưng việc họ cử tới sáu học giả, tuy không phải hàng đầu, tham gia hội thảo này dường như cho thấy họ như đang chuẩn bị một cách tiếp cận mới với Việt Nam", ông Dy nói.

Vietnamnet xin giới thiệu quan điểm của Trung Quốc, dưới góc nhìn của GS Ji, và phần bình luận thêm của GS Carlyle Thayer, nhà nghiên cứu chiến lược nổi tiếng thuộc Học viện Quốc phòng Australia.

Trấn an Mỹ với cam kết tự do hàng hải

Theo GS Ji, những tranh chấp trên Biển Đông diễn ra theo ba hướng: tranh chấp chủ quyền các hòn đảo, xác định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, và quyền tự do hàng hải.

Các bên tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông dường như đang muốn tìm sự chia sẻ từ những nước bên ngoài có nhiều lợi ích trong tự do và an toàn hàng hải, như Nhật, Hàn Quốc, và nhất là Mỹ. Đặc biệt là trước sự gia tăng mạnh mẽ sức mạnh hải quân của Trung Quốc.

Theo GS Ji, Trung Quốc đã cũng nhiều lần khẳng định với các nước trong khu vực rằng họ sẽ tôn trọng quyền tự do hàng hải qua Biển Đông. Và Trung Quốc cam kết không có những bước đi nhằm ngăn cản sự tự do này trong tương lai.

GS Ji nhắc lại "sự kiện Impeccable" hồi tháng 3 năm nay, sự cố nghiêm trọng nhất trong quan hệ giữa hai cường quốc này kể từ vụ đụng máy bay quân sự của hai nước ở đảo Hải Nam trước đó gần tám năm. Theo ông, đó là do cách hiểu và thực thi khác nhau Công ước về luật biển, đặc biệt là điều khoản về quyền của quốc gia duyên hải đối với vùng đặc quyền kinh tế.

Bình luận về luận điểm này của GS Ji, GS Thayer nói: "Trung Quốc nói tàu chiến Mỹ đã họat động do thám trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, Mỹ lại cho rằng họat động đó là thu thập thông tin để đảm bảo tự do hàng hải trên vùng biển quốc tế.

Trong khi đó, các chuyên gia luật quốc tế lại cho rằng không có khái niệm này, và Mỹ phải dùng khái niệm biển khơi. Họ cho rằng mục đích chính của Mỹ là tìm hiểu thông tin nhằm ngăn chặn khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan."

Cho dù sự kiện này không liên quan đến khu vực Biển Đông, nhưng sau "liều thuốc thử" này, so sánh tương quan lực lượng, rõ ràng Trung Quốc đã có sự dịu đi trong những tuyên bố của mình về sự can dự của Mỹ vào khu vực. Còn chính quyền Mỹ đã tái khẳng định lập trường trung lập trong các tranh chấp ở Biển Đông.

"Lập trường của Trung Quốc về tự do hàng hải, được xác lập để ngăn ngừa khả năng đụng độ quân sự với Mỹ. Nhưng lập trường trung lập của Mỹ chỉ liên quan đến tranh cãi pháp lý của các bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, và hoàn toàn khác với việc họ tiếp tục can dự vào khu vực này", GS Thayer nhận định.

Hướng tiếp cận giải quyết tranh chấp

Theo GS Ji, liên quan đến giải quyết tranh chấp, có ba cách tiếp cận để có thể đạt tới một giải pháp thỏa đáng và công bằng. Đó là đàm phán song phương, phân xử tại tòa, và cùng khai thác.

Đàm phán song phương

GS Ji cho biết điều Trung Quốc muốn nhất là giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán và nhượng bộ lẫn nhau giữa các bên có tranh chấp. Học giả này dẫn ra thỏa thuận song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam về việc phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở khu vực Vịnh Bắc Bộ ký vào giữa năm 2004, sau hơn ba thập kỷ đàm phán, như một minh chứng cho tính khả thi của cách tiếp cận này.

Tuy nhiên, ông đã không nêu ra nhận xét rằng việc thực thi thỏa thuận này trên thực tế, chẳng hạn khai thác thủy sản trong vùng đánh cá chung, dường như không mấy thuận lợi cho quốc gia yếu hơn trong tương quan lực lượng.

Về triển vọng của cách tiếp cận này, GS Thayer nhận xét: "Việc phân giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ thông qua đám phán cho thấy cách tiếp cận này không phải là không có kết quả.

Nhưng việc chưa có một dấu hiệu nào cho thấy lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc có thể thỏa thuận được về cách thỏa hiệp, cũng như thời hạn, cho cuộc đàm phán bên ngoài Vịnh Bắc Bộ, mặc dù cuộc đàm phán đã bắt đầu, lại cho thấy điều ngược lại đối với những tranh chấp phức tạp hơn."

Phân xử tại tòa

GS Ji công nhận rằng, việc đưa tranh chấp ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), với sự phán quyết hay hòa giải của bên thứ ba, theo thông lệ quốc tế, là cách tiếp cận được trông đợi nhiều nhất.

Tuy nhiên, Trung Quốc đã ra tuyên bố ngày 25.8.2006, rằng họ không chấp nhận bất cứ thủ tục nào liên quan đến việc giải quyết mọi tranh chấp được nêu trong điều 298 của Công ước về luật biển. Tức là, theo cách hiểu chung, Trung Quốc vẫn chỉ chấp nhận giải quyết tranh chấp thông qua tham vấn và đàm phán.

Tuy nhiên, GS Ji lại có quan điểm khác. Theo cách hiểu của ông, tuyến bố trên của Trung Quốc không phủ nhận sự tồn tại của khả năng giải quyết tranh chấp thông qua phân xử. Có điều, vị học giả đến từ Thượng Hải không giải thích rõ thêm liệu nhận thức ở nhà cầm quyền Bắc Kinh có đúng như ông nói không.

GS Ji nói thêm rằng những bên tranh chấp có thể cân nhắc việc chấp nhận giải quyết ở toà án quốc tế, khi mà điều kiện giải quyết thông qua đàm phán chưa chín muồi quá lâu, hay tranh chấp diễn ra trong một thời gian quá dài.

Trên thực tế, trong những năm gần đây đã có những thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận của các nước châu Á, vốn lạ lẫm với việc tìm kiếm sự trợ giúp của bên thứ ba. Ví dụ, ICJ, hồi tháng 12.2002, đã phán quyết chủ quyền đối với hai hòn đảo trong cuộc tranh chấp giữa Malaysia và Indonesia, và gần đây, vào tháng 5.2008, với bốn hòn đảo khác trong cuộc tranh chấp giữa Malaysia và Singapore.

"Đây là ý kiến riêng của ông ta, lãnh đạo Trung Quốc đã thẳng thừng phủ nhận cách tiếp cận này. Vả lại, khác với những tranh chấp tay đôi giữa Malaysia với Indonesia, hay với Singgapore, việc phân xử tại tòa thực sự là khó nếu có ba, hay hơn nữa, bên tranh chấp", GS Thayer nhận xét.

(Đối với tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông, cuộc tranh chấp tay đôi chi diễn ra ở Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc (kể cả Đài Loan), với lợi thể hiển nhiên của Việt Nam về cả chứng cớ lịch sử lẫn chứng cớ pháp lý.)

Khai thác chung

Với tranh chấp về quyền chủ quyền ở khu vực Biển Đông rất phức tạp, theo GS Ji, khai thác chung là một cách tiếp cận được coi là sáng suốt. Có vẻ về điểm này, ông nhận được sự chia sẻ của các học giả quốc tế tham dự hội thảo vừa rồi. "Theo tôi hiểu, hội thảo vừa rồi đã đi đến một sự đồng thuận rằng những đề nghị khai thác chung từ trước đến nay cần được hâm nóng và thử lại", GS Thayer nói.

GS Ji cũng đề xuất rằng các bên, trước hết, phải thỏa thuận được một khuôn khổ chung cho việc khai thác chung trên toàn bộ Biển Đông. Và hình thức khai thác chung có thể là hai bên, ba bên, bốn bên, hoặc hơn nữa, tùy thuộc vào vùng chồng lấn thế nào.

Như một ví dụ minh họa, ông nhắc tới thỏa thuận thăm dò địa chấn (cho việc khai thác dầu khí) giữa ba nước Trung Quốc, Philippines và Việt Nam hồi đầu năm 2005, và hai nước tranh chấp khác là Brunei và Malaysia cũng được Trung Quốc khuyến khích tham gia dự án này.

Để củng cố thêm cách tiếp cận này, GS Ji đã gợi ý rằng Việt Nam và Trung Quốc nên bàn tới khả năng cùng khai thác bãi Tư Chính, một khu vực là điểm nóng của tranh chấp liên quan đến nguồn lợi dầu mỏ.

Cho rằng đây là cách tiếp cận khả thi, GS Ji cũng vẫn phải thừa nhận rằng thỏa thuận thăm dò địa chấn ba bên đó đã thất bại. Chính phủ Philippines đã không thuyết phục được quốc hội phê chuẩn, khi phe đối lập nhận thấy có sự mờ ám trong khoản viện trợ mà Trung Quốc dành cho nước này.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu